Ngày 10/4, tại Hà Nội, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức Diễn đàn Hợp tác xã Quốc gia lần thứ 3 năm 2026 với chủ đề “Kết nối kinh tế hợp tác với hệ sinh thái kinh tế tư nhân”.
Đúng 8h sáng ngày 10/4, Diễn đàn chính thức khai mạc.

Tới dự Diễn đàn có ông Ngô Văn Cương – Phó Bí thư chuyên trách Đảng uỷ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trung ương; ông Võ Văn Hưng – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Nguyễn Ngọc Cảnh – Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; đại diện các địa phương An Giang, Khánh Hoà, Nghệ An, Thanh Hoá, Hạng Sơn Tây Ninh….

4 giờ trước
Liên kết HTX và doanh nghiệp chỉ bền vững khi hoạt động theo cơ chế thị trường

Kết luận Diễn đàn, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân cho biết trong điều kiện hiện nay, cần hiểu rõ bản chất của HTX là trọng đối nhân, nhưng không vì thế mà HTX không cần vốn, không cần đất, không cần thị trường.
Mục tiêu của HTX là tập trung những người cùng ngành nghề, sở thích, định hướng để phát triển. Cho nên, lợi nhuận của HTX không chia hết 100% như các mô hình kinh tế khác mà giữ lại một phần làm quỹ không chia. Ngay như Sữa cô gái Hà Lan trải qua hơn 200 năm vẫn hoạt động theo mô hình HTX. Từ nguồn quỹ không chia, HTX này tiếp tục phát triển, đầu tư mở rộng và thành lập doanh nghiệp trong HTX.
Từ thực tế của thương hiệu Sữa cô gái Hà Lan có thể thấy, HTX có thể hình thành được doanh nghiệp bên trong. Do đó, cần liên kết theo hình thức này để cùng đi chung trên cùng một “con thuyền” vững chắc.
Một điều đáng chú ý hiện nay là khi kinh tế tư nhân được xác định là một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế, thì HTX cũng phải chuyên nghiệp hơn để mối liên kết với doanh nghiệp được bền chặt.
Phát triển KTTT, HTX không thể tiếp cận theo kiểu hỗ trợ đơn lẻ mà cần có sự hỗ trợ, liên kết. HTX và doanh nghiệp chỉ liên kết bền vững khi hoạt động theo cơ chế thị trường và minh bạch.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, cũng đã đến lúc HTX phải biết “phòng chống đuối nước” để khi thị trường biến động thì biết chủ động và không bị “đuối nước”.
Bên cạnh đó, HTX cũng cần chuẩn hóa sản xuất, quản trị để nâng cao năng lực của chính mình trên thị trường. HTX cũng cần xem thị trường cần gì để đưa sản phẩm ra thị trường một cách thuận lợi hơn.
Từ phát triển vùng trồng, xây dựng thị trường, hợp đồng pháp lý của HTX cần có sự vào cuộc của chính quyền địa phương. Ở đâu HTX có sự hỗ trợ của chính quyền sẽ có nhiều lợi thế để phát triển.
Liên minh HTX Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối để HTX đẩy mạnh liên kết, phát triển chuyển đổi số, hoàn thiện quy trình…, từ đó tạo thuận lợi cho HTX và doanh nghiệp liên kết bền chặt, sản xuất chuyên nghiệp hơn.
Liên minh HTX Việt Nam cũng cam kết liên kết cùng với bộ ngành để hoàn thiện pháp lý, cơ chế cho KTTT, HTX, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho HTX phát triển cũng như thu hút người trẻ tham gia.
4 giờ trước
Giải pháp đột phá cho sản phẩm HTX trên nền tảng số
Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, ông Nguyễn Lâm Thanh, Tổng giám đốc TikTok Việt Nam, đã đưa ra những nhận định sắc bén và đề xuất thực tiễn nhằm hỗ trợ các HTX tối ưu hóa việc quảng bá và bán hàng thông qua công nghệ hiện đại.

Theo ông Nguyễn Lâm Thanh, chỉ sau hơn một năm phát triển mạnh mẽ mảng thương mại điện tử, nền tảng đã ghi nhận những con số ấn tượng: hơn 500.000 nhà bán hàng và doanh nghiệp tham gia, cùng mạng lưới khoảng 6 triệu người sẵn sàng tham gia tiếp thị liên kết. Trung bình mỗi tuần, lượng hàng hóa giao dịch đạt khoảng 2 triệu đơn hàng – một con số minh chứng cho sức mua khổng lồ trên không gian số.
Đặc biệt, với khoảng 45 triệu người dùng hoạt động thường xuyên, đây là thị trường tiêu thụ tiềm năng mà các HTX không thể bỏ qua. Ông Thanh nhận định: “Thị trường bán lẻ Việt Nam trên các nền tảng di động đang đạt quy mô khoảng 1 triệu tỷ đồng mỗi năm và tăng trưởng tới 30%. Nếu không nhanh chóng thay đổi để nâng cao năng lực KTTT trên các nền tảng này, các HTX sẽ rất khó cạnh tranh.”
Điểm yếu kinh niên của các HTX là chi phí quảng bá và tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, sự bùng nổ của AI và Internet đã xóa bỏ rào cản này.
Ông Nguyễn Lâm Thanh nhấn mạnh: “Hiện nay, người sản xuất có thể kể câu chuyện của mình bằng những video ngắn hay livestream ngay tại nhà máy, đồng ruộng với chi phí siêu thấp. Chỉ với một chiếc điện thoại, chúng ta có thể tạo ra những video thu hút tới 20 triệu người xem. Đây là cơ hội để đặc sản địa phương chạm đến cảm xúc và nhu cầu của khách hàng trên toàn quốc một cách trực diện nhất.”
Thực tế, đã có hơn 90.000 sản phẩm đặc sản Việt Nam xuất hiện trên nền tảng TikTok. Tuy nhiên, phần lớn vẫn mang tính tự phát, cá nhân mà thiếu đi sự quy mô, bài bản của một tổ chức KTTT.
Để biến tiềm năng thành doanh thu thực tế cho các thành viên, ông Nguyễn Lâm Thanh đã đề xuất một mô hình phối hợp cụ thể giữa TikTok và Liên minh HTX.
Về xây dựng đơn vị đầu mối: Liên minh HTX cần cử ra một đơn vị đóng vai trò “Hub” (trạm điều phối) để làm việc trực tiếp với nền tảng.
Về đào tạo trực tuyến: Phối hợp tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng livestream, làm nội dung số cho các chủ HTX và thành viên.
Mô hình Agency nội bộ: Các đơn vị đầu mối của Liên minh HTX tại các tỉnh thành có thể đóng vai trò như một Agency (đại lý quảng cáo và phân phối). Đơn vị này sẽ hỗ trợ các HTX thành viên quảng bá sản phẩm, vận hành gian hàng và tối ưu hóa việc tiếp cận người dùng trên không gian số.
“Chúng ta cần tổ chức ở quy mô KTTT thay vì để các HTX tự bơi. Khi Liên minh HTX đóng vai trò điều phối và làm Agency cho chính các thành viên của mình, việc đưa hàng hóa đến tay người dân sẽ trở nên hiệu quả và nhanh chóng nhất”, ông Thanh khẳng định.
Việc chuyển đổi từ phương thức bán hàng truyền thống sang tận dụng sức mạnh của video ngắn và livestream không chỉ là xu hướng, mà là yêu cầu cấp thiết để các HTX Việt Nam khẳng định vị thế và nâng cao giá trị nông sản trong kỷ nguyên số.
4 giờ trước
Hiểu cấu trúc thị trường quốc tế và đầu tư cho bán hàng

Ông Nguyễn Tuấn Việt, Giám đốc Vietgo cho biết: Mỗi tháng Vietgo có 1.200 đơn hàng để cung cấp cho thị trường xuất khẩu. Có thực trạng là nhiều doanh nghiệp đang không có đầu ra để xuất khẩu ổn định. Trong đó, HTX có lợi thế hơn rất nhiều với doanh nghiệp trong xuất khẩu vì HTX là nơi trực tiếp làm ra các sản phẩm và giữ trong tay vùng nguyên liệu.
Đầu tiên, HTX cần phải xuất khẩu trực tiếp chứ không gắn với đầu tàu nào hết. Muốn xuất khẩu được, HTX phải có đội ngũ biết làm xuất khẩu. Bởi đội ngũ biết làm xuất khẩu sẽ hỗ trợ HTX rất tốt điều này.
Có một vấn đề HTX suy nghĩ và phán đoán sai đó là: HTX nghĩ cần phải có tiêu chuẩn mới xuất khẩu được. Điều này là chưa chính xác. Hiện trên thế giới, có 2/3 người tiêu dùng không cần tiêu chuẩn. Vậy, HTX hãy tìm đến những quốc gia không cần tiêu chuẩn để xuất khẩu thuận lợi hơn.
Bên cạnh đó, Nhà nước đang giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là điều trong mơ, là lực đẩy cho các HTX xuất khẩu. Chính phủ cũng làm rất tốt về chính sách xuất khẩu khi Việt Nam có 19 FTA, mở ra cơ hội xuất khẩu rộng lớn, lại được giảm thuế xuất khẩu. Đây là những điều trong mơ mà nhiều đối tác nước ngoài đang mong muốn.
Có một điều hiện nay là nhiều HTX đang hướng đến những sản phẩm mà chính HTX cho là có tiềm năng như dược liệu, rong nho. Nhưng thực chất những mặt hàng này không phải là thực phẩm nằm trong kim ngạch xuất khẩu tốt. Sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu tốt là gạo, cà phê, hồ tiêu…
Ngoài ra, Việt Nam có địa hình hẹp, cước kéo công nội địa từ nhà máy ra đến mép biển thấp. Đây là thứ mà những nước có địa hình hình quả trứng, ovan như Nga, Trung Quốc đang mơ ước.
“Đây là những lợi thế cạnh tranh rất tốt trong xuất khẩu mà HTX cần tận dụng. Chẳng qua các HTX đang gặp phải tình trạng đó là không biết cách bán hàng”, Giám đốc Vietgo nhấn mạnh.
Trong nền kinh tế hiện nay, cần phải có cấu trúc, và cấu trúc ở đây là cần những doanh nghiệp, những đơn vị xuất khẩu. Đội ngũ sản xuất là “công nhân của nền kinh tế”, thì cũng phải cần có đội ngũ “bán hàng” của nền kinh tế. Chính vì thế, cần đào tạo đội ngũ, công ty thương mại không vốn, không xưởng, không tiếng Anh nhưng họ vẫn bán hàng, vẫn xuất khẩu rất tốt.
Một trong những rào cản mà nhiều HTX nghĩ đến trong tiếp cận khách hàng nước ngoài là không biết tiếng, nhưng điều này hoàn toàn có thể tháo gỡ bằng cách sử dụng công nghệ. Vì nhiều khách nước ngoài (Ý, Hàn Quốc, Nhật Bản…) hiện nay cũng không thích sử dụng tiếng Anh để giao dịch. Nên việc sử dụng công nghệ để hỗ trợ hoàn toàn thuận lợi.
Và HTX nên đầu tư vào đội ngũ bán hàng. Nhiều HTX chỉ chú trọng đầu tư vào khâu sản xuất mà chưa đầu tư vào khâu bán hàng. Chỉ cần HTX bỏ một phần vốn vào khâu bán hàng thì khâu tiêu thụ, xuất khẩu sẽ không quá khó khăn. HTX hay doanh nghiệp dù có 1 người hay 1.000 người mà không đầu tư vào bán hàng thì cũng sẽ thất bại hoặc nhờ vào đơn vị khác để kéo mình lên.
“Điều quan trọng là HTX cần nhớ HTX được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, lại cầm trong tay vùng sản xuất là một thắng lợi và lợi thế cạnh tranh”.
Điều cuối cùng, HTX cần nhớ, thế giới cần gì thì HTX cần bán cái thế giới cần, chứ không bán cái mình có. Muốn biết được điều này, HTX cần làm việc với những đơn vị hỗ trợ xuất khẩu để nắm bắt rõ thị trường, thay vì loay hoay một mình.
4 giờ trước
Cần một cơ chế hợp đồng dài hạn dựa trên sự hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, HTX và người dân

Ông Nguyễn Quang Duy – Chủ tịch HĐQT HTX Duy Trang Group (Khánh Hòa), đã trình bày một tư duy đổi mới trong việc gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với du lịch trải nghiệm. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao giá trị gia tăng cho đặc sản địa phương mà còn là con đường hiện thực hóa mục tiêu kinh tế xanh cho tỉnh nhà.
Theo ông Duy, Khánh Hòa vốn sở hữu những đặc ân từ thiên nhiên với vùng biển sạch và khí hậu lý tưởng để phát triển rong nho – một loại nông sản được ví như “vàng xanh” của đại dương. Tuy nhiên, ông Duy thẳng thắn chỉ ra một nghịch lý là dù địa phương có thế mạnh về đặc sản và lượng khách du lịch khổng lồ, nhưng các sản phẩm trải nghiệm nông nghiệp biển vẫn còn rất mờ nhạt. Hiện nay, giá trị của rong nho chủ yếu vẫn dừng lại ở việc bán nguyên liệu thô hoặc xuất khẩu thô, thiếu đi một sợi dây liên kết chặt chẽ để chuyển hóa các giá trị nông nghiệp thuần túy thành một chuỗi trải nghiệm du lịch hấp dẫn, từ đó nâng cao giá trị kinh tế tại chỗ.
Để giải bài toán này, Duy Trang Group đã tiên phong triển khai mô hình liên kết chặt chẽ, nơi mà mỗi thành tố đều đóng một vai trò trọng yếu trong chuỗi giá trị. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò hạt nhân khi chịu trách nhiệm đầu tư công nghệ, chuẩn hóa quy trình sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP hay ISO 22000 để mở cửa thị trường.
Song hành cùng doanh nghiệp, các HTX đóng vai trò cầu nối trong việc tổ chức vùng nuôi và giám sát sản xuất, tạo điều kiện để người dân – những chủ thể trực tiếp canh tác – thay đổi tư duy từ khai thác tự nhiên sang nuôi trồng bền vững. Kết quả thực tiễn đã chứng minh hiệu quả khi mô hình không chỉ giúp hình thành vùng nguyên liệu sạch, truy xuất được nguồn gốc mà còn góp phần tăng thu nhập cho hơn 80 hộ dân ven biển lên từ 1,5 đến 2 lần.
Tầm nhìn của ông Duy không chỉ dừng lại ở việc sản xuất mà còn hướng tới việc biến rong nho thành một câu chuyện văn hóa thông qua ba trụ cột trải nghiệm cốt lõi.
Thứ nhất là hành trình này bắt đầu từ việc cho phép du khách tham gia thu hoạch trực tiếp tại vùng nuôi sạch. Thứ hai là tìm hiểu quy trình chế biến hiện đại tại nhà máy để củng cố niềm tin về chất lượng. Cuối cùng là thưởng thức sự tinh túy của ẩm thực địa phương qua các món ăn kết hợp giữa rong nho, yến sào cùng hải sản.
“Cách tiếp cận này không chỉ giúp kéo dài thời gian lưu trú của du khách mà còn tạo ra một mô hình kinh tế tuần hoàn, nơi rong biển đóng vai trò làm sạch môi trường và tái tạo hệ sinh thái biển”, ông Duy cho hay.
Tuy nhiên, vị chủ tịch này cũng trăn trở về những nút thắt đang cản trở sự phát triển của ngành. Trước hết là sự thiếu bền vững trong các mối liên kết hiện tại khi năng lực quản trị của một số HTX còn hạn chế, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong tiêu chuẩn sản xuất. Tiếp đó, rào cản về nguồn vốn và việc thiếu hụt các cơ chế chính sách dài hạn khiến doanh nghiệp khó yên tâm đầu tư vào các vùng nguyên liệu quy mô lớn. Đặc biệt, việc thiếu một hành lang pháp lý cụ thể cho mô hình du lịch trải nghiệm trên đất nông nghiệp biển đang khiến các bên liên quan gặp nhiều lúng túng trong quá trình triển khai thực tế.
Từ những trăn trở đó, ông Duy đã đưa ra những kiến nghị mang tính chiến lược nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người nông dân. Trước tiên, các cơ quan quản lý cần nhìn nhận HTX là một đối tác chiến lược thực thụ trong chuỗi giá trị để có những chương trình đào tạo quản trị bài bản và hỗ trợ tiếp cận vốn ưu đãi. Đồng thời, tỉnh cần sớm có quy hoạch cụ thể cho vùng nuôi rong nho kết hợp khai thác du lịch, đảm bảo sự đồng bộ giữa sản xuất và trải nghiệm.
Bên cạnh đó, việc chuẩn hóa quy trình sản xuất qua các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và ứng dụng chuyển đổi số trong truy xuất nguồn gốc phải được xem là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Cuối cùng, một cơ chế hợp đồng dài hạn dựa trên sự hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, HTX và người dân sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng một hệ sinh thái nông nghiệp biển bền vững.
5 giờ trước
Đồng đầu tư và đồng phát triển

Tại Diễn đàn, Anh hùng Lao động Trần Mạnh Báo, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn ThaiBinh Seed cho biết: Năm 2022, Thủ tướng có Nghị định 40/2022/NĐ-CP về liên kết 4 nhà, làm cơ sở cho HTX, doanh nghiệp “bắt tay”.
Từ thực tiễn quốc tế, mà cụ thể là ở Canada cho thấy, Liên minh HTX của một bang có thể thu về 7 tỷ USD. Nhưng trong HTX của bang này có cả doanh nghiệp cùng hoạt động để chia sẻ khó khăn và lợi ích.
Điều này cho thấy, để chuỗi giá trị phát triển được thì phải có được HTX và doanh nghiệp. Và chuỗi giá trị muốn mạnh thì HTX cũng phải mạnh.
Hiện nay, đất đai ở Việt Nam nhỏ lẻ, manh mún gây ra những khó khăn cho HTX và doanh nghiệp liên kết. Trong khi ở Nhật Bản, ngay từ người cắt tóc cũng phấn đấu vào HTX để phát triển một cách chuyên nghiệp, hiệu quả.
“Vậy, người dân ở Việt Nam nên học hỏi cách làm này của người dân Nhật Bản để phát triển HTX vững mạnh”, Anh hùng Lao động Trần Mạnh Báo nhấn mạnh.
Từ góc độ doanh nghiệp, ThaiBinh Seed nhận thấy chuỗi giá trị bền vững không thể chỉ dựa trên giao dịch mua, bán ngắn hạn. Nếu chỉ dừng lại ở bao tiêu sản phẩm, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và HTX sẽ luôn chịu áp lực của thị trường và rất dễ đứt gãy khi có biến động.
Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là bao tiêu, mà là “đồng đầu tư và đồng phát triển”.
Thực tiễn kinh doanh cho thấy, nếu doanh nghiệp muốn có vùng nguyên liệu ổn định, sản phẩm đạt chuẩn quốc tế và truy xuất minh bạch, thì chỉ ký hợp đồng thu mua là chưa đủ. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình nâng cấp HTX.
Đầu tiên là doanh nghiệp có thể góp vốn và đầu tư hạ tầng sản xuất. Trong một số mô hình thành công, doanh nghiệp không chỉ đặt hàng mà còn tham gia góp vốn, hỗ trợ xây dựng kho bãi, nhà sơ chế, hệ thống kiểm soát chất lượng. Khi có sự đồng đầu tư, lợi ích và trách nhiệm của hai bên gắn chặt với nhau hơn.
Tiếp theo, doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ và tiêu chuẩn. Để HTX đáp ứng được yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp có thể hỗ trợ chuyển giao quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, hệ thống truy xuất nguồn gốc và quản lý dữ liệu. Điều này không chỉ giúp HTX nâng chuẩn mà còn giúp doanh nghiệp bảo đảm chất lượng đầu vào một cách bền vững.
Ngoài ra, doanh nghiệp và HTX cần hợp tác dài hạn thay vì ngắn hạn. Quan hệ đối tác chiến lược đòi hỏi tầm nhìn dài hạn. Doanh nghiệp cần có kế hoạch ổn định vùng nguyên liệu; HTX cần cam kết sản lượng và chất lượng.
“Khi hai bên cùng xác lập chiến lược 3-5 năm thay vì từng vụ mùa, sự tin cậy sẽ được củng cố”, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn ThaiBinh Seed khẳng định.
Tuy nhiên, để tiến tới đồng đầu tư, doanh nghiệp cũng cần những điều kiện nhất định: HTX phải minh bạch tài chính, có quản trị chuyên nghiệp, tuân thủ quy trình và sẵn sàng chia sẻ dữ liệu. Đồng đầu tư không thể dựa trên sự thiếu minh bạch.
Và trong hệ sinh thái kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 68, HTX không phải là bên phụ thuộc, mà có thể trở thành đối tác chiến lược nếu đáp ứng được chuẩn mực thị trường.
5 giờ trước
Khẳng định vị thế kinh tế tập thể từ tư duy liên kết bền vững
Trong dòng chảy đổi mới của nông nghiệp Việt Nam, HTX Dịch vụ Nông nghiệp Vĩnh Cường (Cà Mau) đã nổi lên như một điểm sáng về mô hình KTTT kiểu mới. Từ một đơn vị nhỏ bé, sau gần một thập kỷ, HTX không chỉ giúp nông dân thay đổi phương thức sản xuất mà còn trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Chia sẻ tại Diễn đàn, ông Trịnh Văn Cường, Chủ tịch HĐQT HTX, cho biết hiện nay HTX Vĩnh Cường có mạng lưới liên kết hơn 10.000 nông dân. Sau gần một thập kỷ, đơn vị đã xây dựng thành công chuỗi giá trị lúa gạo khép kín từ khâu cung ứng hơn 2.000 tấn lúa giống chất lượng đến việc cung cấp vật tư nông nghiệp đúng giá gốc cho thành viên. Việc ứng dụng công nghệ drone và chuyển đổi số không chỉ hiện đại hóa sản xuất mà còn giúp nông dân tiết kiệm đáng kể chi phí canh tác. Với tư duy quản trị minh bạch và lấy thành viên làm trung tâm, HTX đã tạo ra việc làm ổn định cho 550 lao động, đồng thời khẳng định vị thế vững chắc trên thị trường.
Ông Trịnh Văn Cường nhấn mạnh, HTX chính là “cánh tay nối dài” để đưa lúa gạo của bà con ra thị trường lớn. Hiện, HTX đã ký kết bao tiêu lúa hàng hóa cho thành viên và nông dân với diện tích lên đến 50.000 ha/năm tại nhiều tỉnh thành. Trong đó, có hơn 10.000 ha sản xuất theo hướng giảm dư lượng, ứng dụng kỹ thuật ngập khô xen kẽ.
Sức mạnh của HTX nằm ở khả năng đàm phán. Với sự liên kết cùng 3 tập đoàn và 11 doanh nghiệp lớn, HTX đảm bảo đầu ra ổn định cho nông dân. Đặc biệt, trong những thời điểm ngặt nghèo như mưa bão, HTX vẫn giữ vững cam kết thu mua kịp thời theo giá đã thỏa thuận, giúp bà con không còn cảnh “được mùa mất giá” hay bị thương lái ép giá.
Về phía doanh nghiệp, HTX đóng vai trò đảm bảo vùng nguyên liệu đạt chuẩn cả về số lượng và chất lượng. Sự liên kết này tạo ra một “chuỗi giá trị xanh”, nơi mà doanh nghiệp an tâm về nguồn gốc sản phẩm, còn nông dân tự tin vào tay nghề sản xuất của mình.
Nhìn về tương lai, HTX Vĩnh Cường đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng tăng trưởng xanh. Vụ Thu Đông 2025, HTX triển khai mô hình điểm theo Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chuyên canh chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL” trên diện tích 48,5 ha tại Cà Mau. Bước sang vụ Đông Xuân 2025-2026, con số này dự kiến sẽ mở rộng lên 5.000 ha với hơn 2.000 hộ tham gia.
Đây không chỉ là con số về diện tích, mà là khát vọng xây dựng một thương hiệu “HTX xanh – nông nghiệp tuần hoàn”. Việc tham gia đề án giúp nông dân tiếp cận với phương thức canh tác hiện đại, giảm phát thải, bảo vệ môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế.
Từ thực tiễn hoạt động, ông Trịnh Văn Cường đúc kết ba kinh nghiệm then chốt cho sự thành công: Liên kết chặt chẽ “4 nhà” để đảm bảo chuỗi giá trị bền vững; Lấy sự hài lòng và lợi ích của nông dân làm thước đo hiệu quả; Chủ động chuyển đổi số để minh bạch hóa và nâng cao năng suất.
Dù còn nhiều thách thức phía trước, nhưng với tinh thần “dám nghĩ, dám làm” và sự đồng lòng của tập thể, HTX Vĩnh Cường đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành một HTX kiểu mẫu. Hiệu quả từ mô hình này một lần nữa khẳng định: Khi nông dân biết liên kết, biết sẻ chia lợi ích và cùng nhìn về một hướng, nông nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể vươn tầm quốc tế trên nền tảng bền vững và xanh hóa.
“HTX sẽ tiếp tục phát huy tinh thần thi đua, góp phần cùng Chính phủ thực hiện thắng lợi Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, xây dựng một nông thôn mới không chỉ giàu có về vật chất mà còn vững chãi về tinh thần cộng đồng,” ông Trịnh Văn Cường khẳng định.
6 giờ trước
Cần một cơ chế hợp tác dài hạn, có tính ổn định và có cam kết hai chiều

Tại Diễn đàn, bà Vũ Thị Lệ Thủy, Giám đốc HTX 3T nông sản Cao Phong (Phú Thọ) đặt vấn đề: Khi nói đến liên kết giữa HTX và doanh nghiệp, mọi người thường nhắc đến “bao tiêu sản phẩm”. Nhưng theo kinh nghiệm thực tiễn của HTX, bao tiêu chỉ là điểm khởi đầu. Nếu dừng lại ở đó, mối liên kết rất dễ đứt gãy khi thị trường biến động.
Điều các thành viên HTX mong muốn không chỉ là hợp đồng tiêu thụ, mà là một cơ chế hợp tác dài hạn, có tính ổn định và có cam kết hai chiều.
Thực tế cho thấy, trong chuỗi giá trị nông sản và nhiều lĩnh vực khác, giá cả thị trường thay đổi liên tục. Khi giá tăng cao, áp lực từ thị trường khiến một số bên có thể muốn điều chỉnh cam kết. Khi giá giảm, cả HTX và doanh nghiệp đều chịu rủi ro. Nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng, liên kết rất dễ rơi vào tình trạng thiếu niềm tin.
Vì vậy, theo các thành viên HTX, thiết lập cơ chế hợp tác dài hạn cần dựa trên ba trụ cột.
Thứ nhất, cơ chế bảo đảm hợp đồng. Hợp đồng liên kết cần có thời hạn đủ dài để hai bên yên tâm đầu tư nâng cấp vùng nguyên liệu, công nghệ và tiêu chuẩn chất lượng. Đồng thời, cần có các điều khoản rõ ràng về xử lý khi thị trường biến động mạnh, tránh tình trạng đơn phương chấm dứt hợp tác.
Thứ hai, cơ chế chia sẻ rủi ro. Khi giá thị trường giảm sâu hoặc xảy ra yếu tố bất khả kháng, cần có thỏa thuận về mức chia sẻ thiệt hại giữa các bên, thay vì để một bên gánh toàn bộ rủi ro. Ngược lại, khi thị trường thuận lợi, lợi ích cũng cần được phân bổ hợp lý. Chỉ khi rủi ro và lợi ích được chia sẻ công bằng, liên kết mới bền vững.
Thứ ba, cơ chế bảo vệ và duy trì liên kết. Các thành viên HTX cho rằng cần có sự đồng hành của cơ quan quản lý trong việc hướng dẫn khung hợp đồng mẫu, cơ chế hòa giải nhanh khi có tranh chấp, cũng như khuyến khích các mô hình liên kết dài hạn thông qua chính sách phù hợp.
Tuy nhiên, HTX cũng hiểu rằng để yêu cầu cơ chế ổn định, HTX phải thể hiện cam kết rõ ràng: tuân thủ tiêu chuẩn, bảo đảm chất lượng, giao hàng đúng tiến độ và minh bạch thông tin.
Liên kết dài hạn không thể dựa trên sự ngắn hạn trong tư duy. HTX mong muốn chuyển mối quan hệ từ “mua – bán” sang “đồng hành”; từ “bao tiêu” sang “đồng đầu tư”; từ hợp tác theo mùa vụ sang hợp tác theo chiến lược.
6 giờ trước
Nâng chuẩn nội tại: “Chìa khoá” để HTX trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi giá trị

Trong dòng chảy của nền kinh tế thị trường, mối liên kết giữa HTX và doanh nghiệp thường được ví như “cái bắt tay” sinh tồn. Tuy nhiên, để cái bắt tay ấy thực sự bền vững, câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ tiêu thụ. Ông Phạm Kim Tiến – Giám đốc HTX Nông nghiệp Sen Quê Bác (Nghệ An), đã đưa ra một góc nhìn trực diện: Để trở thành đối tác tin cậy, trước hết HTX phải tự nâng chuẩn chính mình.
Theo ông Tiến, lâu nay, trong bức tranh nông nghiệp Việt Nam, nhiều HTX vẫn giữ tâm thế là đơn vị yếu thế, cần sự hỗ trợ hoặc “giải cứu” từ phía doanh nghiệp. Thế nhưng, thực tiễn hội nhập đã chứng minh rằng niềm tin không thể xây dựng dựa trên sự cảm thông, mà phải dựa trên năng lực thực chất.
“Khi nói đến việc kết nối giữa HTX và hệ sinh thái kinh tế tư nhân, chúng tôi cho rằng câu hỏi quan trọng nhất không phải là doanh nghiệp có sẵn sàng hợp tác hay không, mà là HTX đã sẵn sàng để được tin cậy hay chưa. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, khi doanh nghiệp không chỉ tìm nguồn cung mà còn tìm đối tác có năng lực thực chất, chúng tôi nhận thấy: Câu hỏi quan trọng không phải là doanh nghiệp có cần HTX hay không, mà là HTX đã đủ tin cậy để doanh nghiệp lựa chọn hay chưa”, ông Tiến nhấn mạnh.
Theo ông Tiến, thực tế thị trường cho thấy doanh nghiệp hiện nay thường dành ưu tiên đặc biệt cho những đối tác đảm bảo được sự ổn định về chất lượng sản phẩm. Đi cùng với đó là những đòi hỏi khắt khe về tính minh bạch của dữ liệu và sự rõ ràng, chuyên nghiệp trong công tác quản trị. Không dừng lại ở đó, khả năng thích ứng linh hoạt với những biến động không ngừng của thị trường cũng là một tiêu chí then chốt để doanh nghiệp quyết định lựa chọn đối tác gắn bó lâu dài. Nếu HTX không đáp ứng được các yếu tố cốt lõi này, thì mọi nỗ lực liên kết chỉ mang tính chất ngắn hạn, thiếu bền vững và dễ dàng đứt gãy.
Xuất phát từ một mô hình kinh tế gắn liền với cây sen truyền thống tại quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, HTX Sen Quê Bác đã thực hiện một cuộc cách mạng nội tại để thoát khỏi tư duy sản xuất cũ. Ông Tiến cho biết đơn vị đã từng bước chuyển mình theo hướng chuyên nghiệp hóa, trong đó tập trung toàn diện vào bốn trụ cột chiến lược để tạo thế đứng vững chắc trên thị trường.
Trước hết, HTX xác định chuẩn hóa chất lượng là nền tảng cốt yếu nhất để xây dựng niềm tin. Thay vì để các hộ thành viên sản xuất tự phát, HTX đã tổ chức lại theo hướng quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng quy trình kỹ thuật đồng bộ và kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng theo từng công đoạn. Từ đó, các dòng sản phẩm như trà ướp bông sen, trà tâm sen, trà lá sen hay tinh bột củ sen đều đạt tiêu chí OCOP và dần tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế. Ông Tiến nhấn mạnh: “Quan điểm của chúng tôi là không để mỗi hộ làm một kiểu, mà phải tạo ra một chuẩn chung thống nhất cho toàn bộ HTX”.
Song song với việc nâng cao chất lượng, công tác truy xuất nguồn gốc cũng được HTX triển khai như một lợi thế cạnh tranh tuyệt đối. Theo Giám đốc Phạm Kim Tiến, truy xuất nguồn gốc tại đây không chỉ dừng lại ở việc dán mã QR lên bao bì, mà là sự vận hành của một hệ thống dữ liệu sống. Điều này bao gồm việc ghi chép nhật ký sản xuất chi tiết theo từng vùng nguyên liệu, lưu trữ quy trình chế biến, kiểm soát chặt chẽ từng lô hàng và công khai mọi thông tin minh bạch nhất đến tay người tiêu dùng.
Một trụ cột quan trọng khác chính là việc đổi mới năng lực quản trị. HTX đã mạnh dạn rũ bỏ chiếc áo “quản lý gia đình” để khoác lên mình mô hình vận hành của một doanh nghiệp thực thụ. Trong đó, các chức năng về sản xuất, thị trường và tài chính được phân định rõ ràng. Việc xây dựng bộ phận kế toán chuyên nghiệp cùng hệ thống kiểm soát nội bộ bài bản đã giúp tách bạch giữa quyền quản lý và quyền sở hữu, tạo nên sự minh bạch về tài chính – một yếu tố quan trọng để doanh nghiệp tin tưởng khi rót vốn hoặc ký kết hợp đồng dài hạn.
Cuối cùng, ứng dụng công nghệ được coi là đòn bẩy để HTX tăng tốc phát triển. HTX Sen Quê Bác đã tích cực đưa công nghệ vào các khâu chế biến, bảo quản để nâng cao giá trị gia tăng cho hạt sen, đồng thời tận dụng tối đa các nền tảng số trong việc quản lý kho bãi, xử lý đơn hàng và mở rộng kênh bán hàng trực tuyến nhằm tiếp cận khách hàng một cách tối ưu nhất.
Từ quá trình thực tế đó, ông Phạm Kim Tiến đã đúc rút ra những bài học mang tính định hướng cho mô hình KTTT. Trong đó, bài học đầu tiên và quan trọng nhất là liên kết không thể dựa trên sự phụ thuộc, bởi một mối quan hệ bền vững chỉ tồn tại khi cả hai bên đều có thực lực. Tiếp đến, niềm tin giữa các đối tác phải được xây dựng và chứng minh bằng những dữ liệu cụ thể, minh bạch thay vì những lời cam kết suông. Cuối cùng, ông khẳng định giá trị lớn nhất của sự hợp tác chính là việc các bên cùng nhau cộng hưởng để tạo ra những giá trị mới cho xã hội và cộng đồng.
Để mô hình này lan tỏa và phát triển mạnh mẽ hơn, ông Tiến cũng đưa ra những kiến nghị xác đáng dành cho các bên liên quan. Đối với Nhà nước, ông mong muốn có thêm những chính sách hỗ trợ HTX tiếp cận các tiêu chuẩn chất lượng cao, đồng thời đẩy mạnh đào tạo về quản trị và chuyển đổi số để HTX bắt kịp đà phát triển của thời đại.
Ông bày tỏ mong muốn các doanh nghiệp hãy coi HTX là đối tác chiến lược thay vì chỉ là nhà cung cấp thô. Doanh nghiệp cần đồng hành cùng HTX trong việc chuyển giao công nghệ, xây dựng các tiêu chuẩn khắt khe và cùng nhau phát triển thị trường. Riêng với các HTX, ông nhắn nhủ tinh thần chủ động thay đổi, không ngừng minh bạch hóa hoạt động và đặc biệt là phải liên tục nâng chuẩn để không bị bỏ lại phía sau.
Theo ông Phạm Kim Tiến: “HTX sẵn sàng nâng chuẩn, sẵn sàng minh bạch và sẵn sàng chuyên nghiệp hóa để trở thành đối tác tin cậy trong chuỗi giá trị. Chúng tôi không chỉ mong được bao tiêu sản phẩm, mà còn mong muốn được tham gia vào quá trình tạo ra giá trị cùng doanh nghiệp, từ sản xuất, chế biến đến xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường”.
6 giờ trước
Việc tăng cường minh bạch và chuẩn hóa từ chính phía HTX cần được chú trọng

Mở đầu phiên đối thoại tại Diễn đàn, ông Lưu Văn Diễn, Chủ tịch HĐQT HTX cơ giới, xây dựng Vĩnh Thái (Khánh Hòa) cho rằng, khi HTX tham gia liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị, những người đứng đầu và cả các thành viên xác định rất rõ: trong bối cảnh Nghị quyết 68 nhấn mạnh phát triển kinh tế tư nhân và hình thành hệ sinh thái kinh doanh hiện đại, HTX không thể đứng ngoài. Muốn tham gia sâu vào chuỗi giá trị, HTX phải liên kết với doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn một số điểm nghẽn cần được nhìn nhận thẳng thắn.
Thứ nhất, về vướng mắc pháp lý. Nhiều hợp đồng liên kết giữa HTX và doanh nghiệp hiện nay chủ yếu dựa trên thỏa thuận dân sự ngắn hạn. Khi thị trường biến động, cơ chế xử lý tranh chấp còn kéo dài, chi phí pháp lý lớn, trong khi HTX thường ở vị thế yếu hơn về nguồn lực và khả năng bảo vệ quyền lợi. Điều này khiến tâm lý e ngại khi ký kết các hợp đồng dài hạn.
Thứ hai, rủi ro “bẻ kèo” trong liên kết chuỗi. Trong một số trường hợp, khi giá thị trường thay đổi, cả HTX và doanh nghiệp đều có thể gặp áp lực điều chỉnh cam kết ban đầu. Nếu không có cơ chế ràng buộc và chia sẻ rủi ro rõ ràng, liên kết dễ bị đứt gãy. Điều này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn làm giảm niềm tin giữa các bên.
Thứ ba, khó khăn tiếp cận tín dụng khi tham gia chuỗi. Dù có hợp đồng bao tiêu hoặc hợp tác với doanh nghiệp, nhiều HTX vẫn khó tiếp cận vốn vay do thiếu tài sản bảo đảm, thiếu lịch sử tín dụng minh bạch hoặc quy mô còn nhỏ. Trong khi đó, để đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp, từ truy xuất nguồn gốc đến đầu tư công nghệ, HTX cần nguồn vốn trung và dài hạn.
Tuy nhiên, từ thực tiễn đó, HTX nhận thấy rằng, muốn hoàn thiện môi trường liên kết các HTX cần cơ chế pháp lý rõ ràng hơn để bảo vệ hợp đồng liên kết chuỗi. Có thể nghiên cứu xây dựng khung hợp đồng mẫu cho liên kết HTX với doanh nghiệp, có điều khoản chia sẻ rủi ro khi thị trường biến động, nhằm bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các bên.
Bên cạnh đó, cần cơ chế công nhận giá trị của hợp đồng liên kết như một căn cứ tiếp cận tín dụng. Nếu HTX có hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp uy tín, hợp đồng đó nên được xem là một yếu tố bảo đảm bổ sung khi xét duyệt vay vốn.
Đặc biệt, việc tăng cường minh bạch và chuẩn hóa từ chính phía HTX cần được chú trọng. Các thành viên HTX nhận thức rõ rằng muốn được doanh nghiệp tin cậy, HTX phải minh bạch tài chính, chuẩn hóa quy trình sản xuất, bảo đảm chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Đây là trách nhiệm nội tại của HTX, không thể trông chờ hoàn toàn vào hỗ trợ bên ngoài.
“Chúng tôi cho rằng liên kết bền vững chỉ hình thành khi có sự chia sẻ rủi ro. Khi thị trường thuận lợi, các bên cùng hưởng lợi; khi khó khăn, các bên cùng tìm giải pháp thay vì đơn phương chấm dứt hợp đồng”, ông Diễn nhấn mạnh.
6 giờ trước
Để mối liên kết giữa HTX và doanh nghiệp thực chất cần nghiên cứu các chính sách một cách kỹ lưỡng

Phát biểu tại Diễn đàn, Luật sư Trương Thanh Đức, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam nhấn mạnh: Trong bối cảnh hiện nay, cần nhìn nhận lại toàn bộ hệ thống pháp luật về HTX. Nghị quyết 68 nêu rõ, thành phần kinh tế tư nhân đóng vai trò động lực của nền kinh tế, trong đó có HTX. HTX muốn lớn lao, phát triển đến đâu mà không có động lực thì không thể phát triển được. Mà động lực ở đây chính là những cơ chế về tài chính, đất đai…
Luật HTX qua các phiên bản khác nhau đã có sự thay đổi lớn về quản trị, cách thức, kinh doanh, mô hình… Mục tiêu quan trọng nhất của Luật HTX là hướng đến lợi ích thành viên. Đây là những điểm khác biệt của mô hình HTX với các mô hình kinh tế khác.
Vấn đề thuế hiện nay cần nhìn nhận rõ HTX hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Do đó, chính sách cần xây dựng chính sách thuế phù hợp với mô hình KTTT để phát huy vai trò của HTX. Hiện nay, mọi nguồn lực, chính sách đang đổ dồn về doanh nghiệp. Trong khi doanh nghiệp có đủ năng lực, cơ chế chính sách, còn HTX thì thiếu vốn, thiếu cơ chế chính sách để phát triển, mở rộng.
Để mối liên kết giữa HTX và doanh nghiệp thực chất cần nghiên cứu các chính sách một cách kỹ lưỡng. Hiện, doanh nghiệp có thể được vay vốn ngân hàng nhưng không cần tài sản bảo đảm, còn HTX thì không được như vậy. “Phải chăng, các chính sách cần phù hợp với thực tiễn hơn vì tính chất của mô hình HTX là liên kết sản xuất và thành viên chủ yếu là nông dân”, luật sư Trương Thanh Đức đặt vấn đề.
Đặc biệt, trong bối cảnh mới hiện nay, để phát triển sản xuất, liên kết giữa HTX-doanh nghiệp… đều cần sự minh bạch. Nhưng từ trước đến nay, rất ít các tranh chấp giữa HTX với HTX, HTX với các đối tượng khác (doanh nghiệp, tập đoàn…) được đưa ra hệ thống trọng tài. Do đó, các HTX khi sản xuất, liên kết hợp đồng… cần liên kết với đội ngũ trọng tài để đảm bảo được quyền lợi, minh bạch sản xuất. Từ đó giúp HTX phát huy được vai trò của mình trong phát triển kinh tế, xã hội.
6 giờ trước
Bản chất của HTX và vai trò của ‘doanh nghiệp đầu kéo” trong liên kết kinh tế

GS.TS Hoàng Văn Cường, Nguyên Phó hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân, Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội khóa XV, đã có những phân tích sâu sắc về bản chất của mô hình HTX trong bối cảnh hiện nay. Theo ông, sức mạnh của HTX không nằm ở quy mô riêng lẻ mà nằm ở sự liên kết chặt chẽ giữa các cá nhân để giải quyết những bài toán mà một cá nhân không thể tự thực hiện.
GS.TS Hoàng Văn Cường khẳng định cốt lõi của HTX chính là sự liên kết: “Bản chất của HTX chính là ra đời dựa vào sự liên kết của các tư nhân. Nếu không có liên kết giữa các cá nhân với nhau thì sẽ không có HTX.”
Thực tế cho thấy, mô hình này thường bắt đầu từ những người đồng nghiệp, những người có cùng ngành nghề sản xuất. Khi từng cá nhân riêng lẻ nhận thấy việc hoạt động độc lập không mang lại hiệu quả, họ có nhu cầu tự thân phải đoàn viên, kết nối lại. Theo ông Cường, nhu cầu liên kết này xuất phát từ ba yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất:
Thứ nhất, đó là sự tương đồng về công đoạn sản xuất. Khi các cá nhân có các phần việc giống nhau, nếu làm riêng lẻ sẽ rất manh mún. Việc hợp tác giúp họ tối ưu hóa nguồn lực.
Thứ hai, liên kết để ứng dụng công nghệ. Trong kỷ nguyên hiện đại, nếu quy mô sản xuất quá nhỏ, một cá nhân không thể đủ năng lực để ứng dụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến. Ông Cường nhận định: “Tiêu chuẩn quá nhỏ thì không thể nào ứng dụng được các công nghệ, các kỹ thuật như hiện tại. Muốn làm thì phải hợp tác với nhau để có thể ứng dụng được các công nghệ kỹ thuật”.
Thứ ba, tạo sức mạnh cạnh tranh trên thị trường. Một cá nhân với sản lượng thấp không thể xây dựng được thương hiệu, không có tiếng nói khi ra thị trường và không thể cạnh tranh. Do đó, việc liên kết là cách duy nhất để tạo ra một khối lượng sản phẩm đủ lớn, đủ sức mạnh để chinh phục thị trường và tạo ra ưu thế cạnh tranh.
Một khía cạnh quan trọng khác mà GS.TS Hoàng Văn Cường đề cập là vai trò của HTX trong việc thống nhất hành động và kiểm soát chất lượng. Khi các cá nhân đứng riêng lẻ, sự biến động của thị trường và các yếu tố cạnh tranh không lành mạnh dễ dàng đánh gục họ.
Ông Cường cho rằng, khi tham gia vào HTX, các thành viên phải đạt được sự thống nhất về nhận thức và hành động. “Nếu thống nhất được hành động thì sẽ giữ được thị trường, giữ được uy tín, giữ được thương hiệu và tạo ra sự phát triển của các lĩnh vực đó”. Ngược lại, nếu HTX không hoàn thiện được cơ chế kiểm soát và chứng nhận chất lượng cho thành viên, vai trò của HTX sẽ trở nên mờ nhạt. Ông trăn trở: “Nếu không hoàn thiện được cái này thì tôi cho rằng có lẽ vai trò của HTX sẽ không còn được khẳng định”. Đây là một gợi mở quan trọng cho việc đổi mới luật pháp và chính sách về HTX, trong đó cần đặt nặng vấn đề đánh giá, kiểm soát và chứng nhận chất lượng sản phẩm trong nội bộ khối liên kết.
GS.TS Hoàng Văn Cường đặc biệt lưu ý về mục tiêu hoạt động của HTX. Ông cho rằng HTX ra đời phải nhằm mục đích làm tăng giá trị hoạt động của từng thành viên, chứ không đơn thuần là một đơn vị trung gian mua đi bán lại.
Ông phân tích: “HTX ra đời là để hỗ trợ cho quá trình sản xuất của thành viên đó được gia tăng giá trị. Nếu không làm cho giá trị thành viên tăng lên, mà chỉ thu mua sản phẩm rồi đem đi tiêu thụ thì khi đó HTX chỉ đơn thuần như một doanh nghiệp đầu mối”.
Sự khác biệt ở đây nằm ở chỗ: HTX phải can thiệp vào quá trình sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp dịch vụ đầu vào và tìm kiếm thị trường đầu ra để mỗi khâu trong chuỗi giá trị của thành viên đều được tối ưu hóa. Nếu chỉ dừng lại ở việc thu mua, thành viên sẽ không thấy được lợi ích sát sườn của việc tham gia vào tổ chức.
Ông Cường phân biệt giữa hai loại hình “Doanh nghiệp đầu mối” và “Doanh nghiệp đầu kéo” trong mối quan hệ với HTX và nông dân.
Doanh nghiệp đầu mối: Là những đơn vị chỉ thực hiện việc thu mua sản phẩm (bao tiêu) sau khi người dân đã sản xuất xong. Mối quan hệ này thường lỏng lẻo và không mang tính bền vững cao trong việc nâng cao năng lực sản xuất.
Doanh nghiệp đầu kéo: Là những doanh nghiệp không chỉ mua sản phẩm mà còn “kéo” cả hệ thống đi lên. Họ đầu tư vào quá trình sản xuất, hỗ trợ nông dân về trình độ, kỹ thuật, cùng chia sẻ rủi ro và chia sẻ lợi ích.
Ông Cường nhận định: “Hiện nay, chúng ta đang thiếu những doanh nghiệp đầu kéo. Các doanh nghiệp bao tiêu đứng ở tiếp điểm cuối cùng thì không có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy năng lực sản xuất”.
Chính vì vậy, ông kiến nghị cần có những chính sách mạnh mẽ để hình thành và phát triển các doanh nghiệp đầu kéo này. Theo ông, có hai con đường để hình thành doanh nghiệp đầu kéo: Một là tìm kiếm những doanh nghiệp đã có tiềm lực mạnh trên thị trường để liên kết; hai là khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sâu vào các công đoạn sản xuất của nông dân và HTX.
Dựa trên những phân tích về thực trạng, GS.TS Hoàng Văn Cường đề xuất các định hướng chính sách nhằm thúc đẩy KTTT:
Hỗ trợ tập trung vào năng lực cốt lõi: Các chính sách khuyến khích, ưu đãi của Nhà nước cần tập trung vào việc giúp HTX nâng cao năng lực quản trị, năng lực nghiên cứu và khả năng tương tác với thị trường.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và quy mô: Để tồn tại trong bối cảnh mới, HTX phải hướng tới quy mô đủ lớn để tạo ra các hành trình “thông minh”, ứng dụng công nghệ số vào quản lý và truy xuất nguồn gốc, bảo vệ thương hiệu trên môi trường trực tuyến.
Ưu tiên phát triển doanh nghiệp đầu kéo: Nhà nước cần có các chính sách đặc thù để thu hút các doanh nghiệp có tâm và có tầm tham gia vào chuỗi liên kết với tư cách là “đầu kéo”. Những doanh nghiệp này khi đầu tư vào quá trình sản xuất của nông dân, giúp tăng trình độ sản xuất và chia sẻ rủi ro, cần được hưởng các chế độ đãi ngộ tương xứng.
GS.TS Hoàng Văn Cường khẳng định mô hình HTX chỉ thực sự sống động và hiệu quả khi giải quyết được bài toán liên kết thực chất, làm gia tăng giá trị cho từng thành viên và có sự đồng hành của các doanh nghiệp đầu kéo mạnh mẽ. Đó không chỉ là sự hợp tác về kinh tế, mà còn là sự thống nhất về hành động để khẳng định vị thế của sản phẩm và thương hiệu Việt trên thị trường.
6 giờ trước
Đột phá thể chế phát triển kinh tế nông thôn hiện đại

Phát biểu tại Diễn đàn, bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (Bộ NN&MT) khẳng định: Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân đã có bước phát triển vượt bậc cả về quy mô, năng lực và vai trò, trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị, kinh tế tư nhân được khẳng định là “một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia”, đóng góp khoảng trên 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho trên 80% lực lượng lao động. Đây không chỉ là sự ghi nhận về mặt thực tiễn, mà còn là bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển, đặt khu vực kinh tế tư nhân vào vị trí trung tâm của hệ sinh thái kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới.
Song song với đó, khu vực KTTT, HTX tiếp tục được Đảng và Nhà nước xác định là một thành phần kinh tế quan trọng, giữ vai trò nền tảng trong tổ chức sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Với hàng chục nghìn HTX và hàng triệu thành viên là hộ nông dân, khu vực KTTT, HTX không chỉ góp phần tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô, hiệu quả, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ đầu vào, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người dân, qua đó góp phần bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị – xã hội khu vực nông thôn và thúc đẩy phát triển bền vững.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển cho thấy, giữa hai khu vực kinh tế này vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể, chưa hình thành được mối quan hệ gắn kết chặt chẽ, hiệu quả và mang tính hệ thống.
Trước hết, khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp, dù giữ vai trò dẫn dắt thị trường và chuỗi giá trị nhưng phần lớn vẫn phát triển tương đối độc lập, chưa gắn bó hữu cơ với hệ thống sản xuất trực tiếp. Cụ thể, hơn 30.000 trang trại đóng vai trò phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn; khoảng 12.000-13.000 doanh nghiệp nông nghiệp tham gia vào các khâu chế biến, xuất khẩu; cùng với hàng triệu hộ kinh doanh, thương lái, đại lý thu gom và các tác nhân trung gian tham gia lưu thông, phân phối… đã làm rõ điều này.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, phát triển xanh và bền vững ngày càng trở nên bắt buộc. Điều này đặt ra nhu cầu cấp thiết phải có các thiết chế trung gian đủ năng lực để tổ chức lại sản xuất, liên kết các chủ thể và giảm chi phí giao dịch. Chính trong khoảng trống này, khu vực KTTT, HTX được xác định là một giải pháp tổ chức mang tính nền tảng.
Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, với quy mô đóng góp trên 50% GDP, khoảng 30-40% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng tới 82-85% lực lượng lao động cả nước.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông nghiệp, cấu trúc của khu vực kinh tế tư nhân có những đặc thù rất riêng, mang tính phân tán và đa tầng nấc, khác biệt đáng kể so với khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân trong nông nghiệp bao gồm một hệ sinh thái rộng lớn với nhiều chủ thể: khoảng trên 09 triệu hộ nông dân là lực lượng sản xuất và cung ứng nguyên liệu. Ngược lại, nhiều HTX nông nghiệp vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, năng lực quản trị, tài chính và ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường và doanh nghiệp, dẫn đến vị thế còn yếu trong chuỗi giá trị.
Bên cạnh đó, các mối liên kết giữa HTX và doanh nghiệp hiện nay chủ yếu mang tính ngắn hạn, thiếu ổn định, dễ bị phá vỡ khi thị trường biến động; cơ chế hợp đồng, chia sẻ lợi ích và rủi ro chưa rõ ràng; niềm tin giữa các chủ thể chưa được củng cố vững chắc.
Trong bối cảnh nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại, xanh và bền vững đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy và cách tiếp cận phát triển, chuyển từ “liên kết đơn lẻ” sang “hệ sinh thái tích hợp”.
Theo đó, cần tái cấu trúc căn bản mối quan hệ giữa HTX và doanh nghiệp theo hướng hình thành hệ sinh thái kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường và chuỗi giá trị; HTX là nền tảng tổ chức sản xuất, đại diện cho nông dân; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, thiết kế thể chế và điều phối hệ sinh thái.
Việc hình thành và phát triển hệ sinh thái này không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả liên kết sản xuất, tiêu thụ, mà còn là giải pháp mang tính chiến lược để tái cấu trúc kinh tế nông thôn, nâng cao giá trị gia tăng, tăng sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, đồng thời thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm trong giai đoạn tới.
Để kết nối KTTT, HTX với hệ sinh thái kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, cần hoàn thiện thể chế liên kết chuỗi giá trị, nền tảng của hệ sinh thái. Trọng tâm là sửa đổi, hoàn thiện các chính sách hiện hành (Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về hợp tác, liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp), đặc biệt là cơ chế hỗ trợ liên kết sản xuất, tiêu thụ theo hướng đơn giản hóa thủ tục, phân cấp mạnh cho địa phương và mở rộng phạm vi điều chỉnh để bao trùm đầy đủ các tác nhân của hệ sinh thái kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, bao gồm doanh nghiệp, HTX, hộ nông dân, thương lái và các dịch vụ trung gian.
Song song đó, cần khắc phục tình trạng chính sách phân tán, thiếu tích hợp; xây dựng một hệ thống chính sách thống nhất, có tính liên thông giữa các lĩnh vực sản xuất với thị trường, tài chính và khoa học công nghệ, qua đó tạo lập môi trường thể chế thuận lợi, bình đẳng, đúng với tinh thần Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Đồng thời, cần đẩy mạnh triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu minh bạch của thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Song song với đó là các chương trình đào tạo “nông dân số”, “HTX số” góp phần hình thành lực lượng lao động nông nghiệp hiện đại, có khả năng thích ứng với nền kinh tế số.
Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay là khi phát triển HTX cần đặt các mô hình này trong tổng thể các chương trình mục tiêu quốc gia và chiến lược phát triển ngành nhằm bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả nguồn lực. Trong đó, HTX cần được xác định là chủ thể trung tâm trong các chương trình xây dựng nông thôn mới, phát triển sản phẩm OCOP, phát triển vùng nguyên liệu và giảm nghèo bền vững.
Đặc biệt, các mô hình như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp cần được coi là hình mẫu để nhân rộng trên phạm vi cả nước, trong đó vùng nguyên liệu là “hạ tầng cứng”, còn HTX là “hạ tầng mềm” tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi giá trị.
7 giờ trước
Thúc đẩy liên kế tư nhân và kinh tế tập thể: Chiến lược tạo hệ sinh thái bền vững

Tại Diễn đàn, ông Đỗ Mạnh Khởi, Phó cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) chia sẻ sâu sắc về thực trạng và các giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm thúc đẩy mối quan hệ liên kết này.
Ông Đỗ Mạnh Khởi nhấn mạnh tầm quan trọng của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Chỉ sau gần một năm triển khai, Nghị quyết đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra luồng sinh khí mới cho cộng đồng doanh nghiệp.
Số liệu thống kê cho thấy sự khởi sắc rõ nét: Tính đến hết năm 2025, cả nước có gần 1.020.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Trung bình mỗi tháng có hơn 26.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường – một con số kỷ lục. Đặc biệt, tinh thần khởi nghiệp đã lan tỏa mạnh mẽ khi có gần 4.200 hộ kinh doanh tự nguyện chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp.
Để có được kết quả này, công tác cải cách thể chế đóng vai trò tiên quyết. Chính phủ đã hoàn thành 41/43 nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2025, cắt giảm và đơn giản hóa hơn 3.000 thủ tục hành chính liên quan đến sản xuất kinh doanh (đạt tỷ lệ 63,1%). Theo ông Khởi: “Việc tinh gọn bộ máy và chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính đã dự kiến tiết giảm chi phí tuân thủ khoảng 48,6 nghìn tỷ đồng mỗi năm cho doanh nghiệp”.
Bên cạnh đó, các chính sách ưu tiên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cũng đạt được những kết quả ấn tượng. Trong lĩnh vực mua sắm công, các gói thầu dưới 20 tỷ đồng dành cho DNNVV đã chiếm tới 95,5% tổng số gói thầu, với tổng giá trị trúng thầu đạt trên 125.000 tỷ đồng. Sự phục hồi của khu vực tư nhân đã đóng góp trực tiếp vào ngân sách nhà nước với ước tính 497.156 tỷ đồng từ khu vực ngoài quốc doanh, vượt xa dự toán đề ra.
Phân tích về nền tảng của sự kết nối, ông Đỗ Mạnh Khởi khẳng định Đảng và Nhà nước luôn nhất quán quan điểm phát triển hài hòa các thành phần kinh tế. Từ Nghị quyết Đại hội XIII đến Đại hội XIV, vai trò của kinh tế tư nhân (KTTN) và KTTT ngày càng được định vị rõ nét: KTTN là động lực quan trọng nhất, trong khi KTTT (nòng cốt là HTX) là thành phần kinh tế quan trọng, không ngừng được củng cố.
Về mặt pháp lý, hệ thống luật pháp đã dần hoàn thiện để tạo hành lang cho sự hợp tác này. Nghị quyết 198/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt phát triển KTTN, Luật Hợp tác xã 2023, cùng các Nghị định như 20/2026/NĐ-CP hay 113/2024/NĐ-CP đã tạo ra những đòn bẩy cụ thể. Chẳng hạn, quy định cho phép doanh nghiệp lớn được khấu trừ chi phí đào tạo nhân lực cho DNNVV khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp là một bước đi đột phá để hình thành chuỗi cung ứng bền vững.
Dưới góc nhìn chuyên gia, ông Đỗ Mạnh Khởi cho rằng liên kết giữa HTX và doanh nghiệp là mối quan hệ cộng sinh, giúp khơi thông tiềm năng mà nếu đứng riêng lẻ, mỗi bên đều gặp khó khăn.
Đối với các HTX, việc bắt tay với doanh nghiệp mang lại bốn lợi ích cốt lõi:
Mở rộng quy mô và dịch vụ: HTX không chỉ sản xuất mà còn tham gia vào chuỗi cung ứng vật tư, sơ chế, bảo quản và thương mại chuyên nghiệp hơn.
Tăng nguồn thu bền vững: HTX nhận hoa hồng từ dịch vụ đầu vào và phí quản lý liên kết từ doanh nghiệp, giúp giảm chi phí sản xuất cho thành viên.
Nâng cao năng lực quản trị: Cán bộ HTX được cọ xát với các tiêu chuẩn khắt khe của doanh nghiệp, từ đó thay đổi tư duy làm việc chuyên nghiệp.
Củng cố vai trò với thành viên: HTX trở thành người đại diện đủ sức mạnh để thương lượng giá cả và quyền lợi cho nông dân trên thị trường.
Đối với các doanh nghiệp, sự liên kết với HTX giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Thay vì phải tự đầu tư dàn trải vào vùng nguyên liệu, doanh nghiệp có thể kiểm soát chất lượng từ gốc thông qua HTX. Điều này giúp giảm rủi ro, tối ưu hóa chi phí logistics và đảm bảo nguồn cung ổn định.
“Việc tuân thủ các tiêu chuẩn bền vững trong chuỗi cung ứng không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế mà còn xây dựng hình ảnh thương hiệu gắn với trách nhiệm xã hội”, ông Khởi nhận định.
Dù đã có những kết quả ban đầu, nhưng theo ông Khởi, sự liên kết hiện nay vẫn còn những hạn chế, chưa tận dụng hết lợi thế bổ trợ. Để vượt qua thách thức và đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, ông đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, cần quán triệt sâu rộng và cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về liên kết khu vực KTTT và KTTN thành các hành động thực tiễn, tránh tình trạng chính sách chỉ nằm trên giấy.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới toàn diện hệ thống chính sách phát triển KTTN. Cần chuyển mạnh từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, đơn giản hóa tối đa thủ tục gia nhập thị trường và bảo đảm quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực cho mọi loại hình doanh nghiệp.
Thứ ba, hoàn thiện hành lang pháp lý về hợp tác công tư và liên doanh liên kết. Hệ thống pháp luật cần tính ổn định cao, minh bạch trong cơ chế giải quyết tranh chấp và phân phối lợi ích để củng cố niềm tin cho các bên tham gia.
Thứ tư, xây dựng cơ chế hỗ trợ đặc thù theo chuỗi giá trị. Ông Khởi nhấn mạnh: “Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đóng vai trò ‘đầu tàu’ để dẫn dắt các HTX tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu”. Các chính sách này nên tập trung vào ưu đãi tín dụng, bảo lãnh vay vốn cho các mô hình tăng trưởng xanh, áp dụng tiêu chuẩn ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị).
Thứ năm, triển khai thực chất các hỗ trợ về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Các nguồn lực hỗ trợ phải được đảm bảo để HTX và doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng với chi phí tuân thủ thấp nhất.
Thứ sáu, phát huy vai trò cầu nối của các tổ chức đại diện như Liên minh HTX Việt Nam, VCCI và Hiệp hội DNNVV. Các tổ chức này cần chủ động tổng hợp khó khăn, đề xuất các cách làm hay để thể chế hóa kịp thời.
Liên kết giữa HTX và doanh nghiệp không đơn thuần là một mô hình kinh doanh, mà là động lực để phát triển cộng đồng và củng cố nội lực nền kinh tế quốc gia. Ông Đỗ Mạnh Khởi tin rằng, với một hệ thống thể chế minh bạch và thông thoáng, sự hợp tác này sẽ tạo nên những chuỗi giá trị bền vững, góp phần nâng cao đời sống người dân và đưa Việt Nam vươn tới những mục tiêu phát triển thịnh vượng trong tương lai.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên sẽ là chìa khóa để hiện thực hóa tầm nhìn về một nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng.
7 giờ trước
Thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào khu vực kinh tế tập thể: Từ cơ chế đột phá đến liên kết chuỗi giá trị bền vững

Phát biểu tại Diễn đàn, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Ngọc Cảnh khẳng định, KTTT và HTX là thành phần kinh tế quan trọng, cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân tạo nên nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc gia. Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước, ngành Ngân hàng đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khơi thông nguồn vốn, đặc biệt là thúc đẩy các mô hình liên kết chuỗi giá trị.
Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, quan điểm xuyên suốt của Đảng tại Nghị quyết 20 Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc phát triển KTTT bền vững. Trong đó, HTX đóng vai trò trung tâm kết nối giữa nông dân và doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và nâng cao chất lượng sản phẩm để tham gia sâu vào mạng lưới phân phối hiện đại.
Cụ thể hóa những chủ trương lớn này, NHNN với vai trò cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng, đã chủ động triển khai các cơ chế, chính sách tại Luật Hợp tác xã 2023, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khu vực KTTT tiếp cận vốn và các dịch vụ tài chính.
Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh chỉ rõ 5 nhóm giải pháp trọng tâm mà NHNN đã và đang quyết liệt thực hiện.
Thứ nhất, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt. NHNN duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Đặc biệt, trong năm 2025 và những tháng đầu năm 2026, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tiết giảm chi phí để chia sẻ lãi vay với khách hàng. Hiện nay, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên (bao gồm HTX) được quy định tối đa ở mức 4%/năm, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng lãi suất chung.
Thứ hai, hoàn thiện hành lang pháp lý. NHNN đã tham mưu trình Quốc hội ban hành Luật Các TCTD năm 2024 và Luật sửa đổi năm 2025. Các văn bản hướng dẫn sau đó đã bổ sung quy định về cấp tín dụng bằng phương tiện điện tử và quy định giá trị món vay nhỏ không cần chứng minh phương án vay vốn. Đây là bước đột phá giúp giảm bớt thủ tục hành chính, tăng khả năng tiếp cận vốn cho cá nhân và HTX.
Thứ ba, cơ chế tín dụng đặc thù cho liên kết nông nghiệp. Từ Nghị định 55/2015/NĐ-CP đến Nghị định 156/2025/NĐ-CP ban hành vào tháng 6/2025, các mức cho vay không tài sản bảo đảm đã được nâng lên mạnh mẽ.
Cụ thể: Nâng mức cho vay không tài sản bảo đảm đối với cá nhân, hộ gia đình lên 500 triệu đồng.
Đối với HTX và Liên hiệp HTX (LHHTX), mức cho vay không tài sản bảo đảm tăng từ 1-3 tỷ đồng lên 5 tỷ đồng.
Các HTX tham gia liên kết với doanh nghiệp hoặc ứng dụng công nghệ cao có thể được vay không tài sản bảo đảm tối đa 70%-80% giá trị dự án.
Thiết lập các cơ chế xử lý rủi ro đặc thù như cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ hoặc khoanh nợ khi gặp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng.
Thứ tư, các chương trình tín dụng ưu đãi theo ngành hàng. NHNN đã thiết kế nhiều gói tín dụng quy mô lớn:
Chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long với lãi suất ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1%/năm. Đến nay, 8 ngân hàng thương mại đã tham gia với doanh số giải ngân đạt 3.200 tỷ đồng.
Chính sách tín dụng theo Nghị định 28/2022 cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó HTX tham gia chuỗi giá trị được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất chỉ bằng 50% lãi suất hộ cận nghèo (khoảng 3,74%/năm).
Thứ năm, định hướng tín dụng vào các động lực tăng trưởng. NHNN thường xuyên chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho các mô hình sản xuất chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và các sản phẩm OCOP thế mạnh của địa phương.
Sự vào cuộc của ngành Ngân hàng đã mang lại những con số cụ thể. Tính đến nay, dư nợ cho vay đối với chủ thể HTX, LHHTX đạt khoảng 7 nghìn tỷ đồng. Nếu tính cả các cá nhân, hộ gia đình là thành viên HTX, tổng dư nợ lên tới trên 8,5 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 46% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.
Bên cạnh việc giải ngân vốn, các TCTD còn đóng vai trò tư vấn cho HTX xây dựng phương án kinh doanh, hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Đồng thời, các ngân hàng cũng khuyến khích doanh nghiệp cùng góp vốn hoặc bảo lãnh tín dụng cho HTX, từ đó giảm gánh nặng tài sản bảo đảm và thắt chặt liên kết chuỗi giá trị.
Dù đã có nhiều nỗ lực, Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh thẳng thắn thừa nhận hoạt động tín dụng đối với HTX vẫn gặp không ít thách thức. Một số HTX vẫn phản ánh khó tiếp cận vốn. Nguyên nhân không chỉ nằm ở cơ chế chính sách mà còn từ nội tại của chính các HTX:
Quy mô và năng lực hoạt động còn hạn chế. Năng lực của chủ chuỗi liên kết còn yếu, chưa hình thành được chuỗi bền vững. Thiếu sự minh bạch trong dòng tiền của chuỗi. Thiếu cơ sở dữ liệu về vùng liên kết và các hợp đồng liên kết.
Những hạn chế này khiến các TCTD gặp khó khăn trong việc triển khai chính sách ưu đãi cũng như kiểm soát rủi ro dòng tiền.
Nghị quyết 20 đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50% HTX tham gia liên kết chuỗi giá trị. Đặc biệt, Kết luận số 18-KL/TW năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã đặt ra quyết tâm đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, trong đó ưu tiên đột phá phát triển KTTT gắn với khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Để thực hiện các mục tiêu này, Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh nhấn mạnh các nhiệm vụ trọng tâm của NHNN trong thời gian tới:
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách, cải tiến quy trình thủ tục cấp tín dụng phù hợp với thực tiễn của HTX.
Chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh các gói tín dụng lãi suất thấp và ưu tiên các mô hình liên kết HTX – Doanh nghiệp.
Đồng thời, để giải quyết triệt để các vướng mắc, NHNN đề xuất sự phối hợp từ các bộ, ngành liên quan:
Về thể chế: Cần rà soát, sửa đổi Nghị định 98/2018/NĐ-CP về liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp. Trong đó, cần nâng cao tiêu chuẩn chất lượng chuỗi, quy định rõ về xây dựng cơ sở dữ liệu để kiểm soát dòng tiền và hợp đồng liên kết.
Về thực thi Luật HTX: Cần tổng kết đánh giá Điều 81 Luật HTX 2023 về việc HTX thành lập doanh nghiệp để hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, từ đó thúc đẩy mô hình “doanh nghiệp trong HTX”.
Về phong trào thi đua: Đề nghị Liên minh HTX phối hợp với VCCI và các hiệp hội để nhân rộng các mô hình liên kết tiên tiến, kịp thời biểu dương các HTX và doanh nghiệp có mô hình hợp tác hiệu quả.
Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh khẳng định, với sự đồng hành của ngành Ngân hàng và sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, khu vực kinh tế tập thể sẽ có đủ nguồn lực để phát triển mạnh mẽ, đóng góp xứng đáng vào sự tăng trưởng chung của đất nước.
7 giờ trước
Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân phát biểu khai mạc
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân nhấn mạnh: Diễn đàn năm nay được tổ chức trong bối cảnh Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Trong hệ sinh thái đó, câu hỏi đặt ra không còn là HTX có vai trò hay không, mà là HTX sẽ đứng ở đâu, làm gì và liên kết như thế nào để cùng phát triển với khu vực kinh tế tư nhân. Chính vì vậy, Diễn đàn HTX quốc gia năm nay lựa chọn chủ đề “Kết nối kinh tế hợp tác với hệ sinh thái kinh tế tư nhân”.
Nhìn ra thế giới, có thể thấy một điểm chung – nền kinh tế thành công không phải là nền kinh tế vận hành dựa trên các chủ thể đơn lẻ, mà là những nền kinh tế được tổ chức theo hệ sinh thái, nơi các thành phần kinh tế tương tác, bổ trợ và cùng phát triển.
Tại Việt Nam, khu vực kinh tế tập thể (KTTT), nòng cốt là HTX đang từng bước khẳng định vai trò trong hệ sinh thái kinh tế quốc gia.
Tính đến tháng 3 năm 2026, cả nước có khoảng 35.197 HTX với gần 7 triệu thành viên (bao gồm thành viên chính thức và thành viên liên kết); trong đó khu vực nông nghiệp chiếm 66,8% với 23.512 HTX tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong xây dựng nông thôn mới, còn khu vực phi nông nghiệp có 11.685 HTX chiếm 33,2% hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, vận tải và môi trường.
Khoảng 78% HTX hoạt động hiệu quả, gần 4.700 HTX tham gia liên kết chuỗi giá trị và khoảng 2.600 HTX ứng dụng công nghệ cao. Những con số này không chỉ phản ánh quy mô phát triển, mà còn cho thấy một xu hướng rõ ràng: HTX đang chuyển mình từ một mô hình hỗ trợ sang một chủ thể kinh tế năng động, có khả năng kết nối và tham gia sâu hơn vào thị trường.
Trong bối cảnh hiện nay, không một khu vực kinh tế nào có thể phát triển một cách đơn lẻ. Doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định và có tổ chức; người nông dân cần đầu ra bền vững và thị trường minh bạch; công nghệ cần môi trường ứng dụng thực tiễn; tài chính cần những mô hình kinh doanh có tính khả thi và bền vững.
Chính vì vậy, sự kết nối giữa HTX và khu vực kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan. HTX mang lại sức mạnh của sự liên kết cộng đồng, khả năng tổ chức sản xuất quy mô lớn từ các hộ nhỏ và sự ổn định của vùng nguyên liệu; trong khi đó, khu vực kinh tế tư nhân mang đến công nghệ, năng lực quản trị hiện đại, nguồn vốn và khả năng tiếp cận thị trường. Khi hai lực lượng này được kết nối hiệu quả, chúng ta không chỉ tạo ra các giao dịch kinh tế, mà còn hình thành các chuỗi giá trị mới, các mô hình hợp tác mới với những cơ hội phát triển bền vững cho hàng triệu người dân.
Thực tiễn thời gian qua đã cho thấy nhiều mô hình hợp tác hiệu quả, từ HTX nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp chế biến để nâng cao giá trị nông sản và mở rộng xuất khẩu, đến HTX du lịch cộng đồng kết nối với các nền tảng công nghệ để đưa hình ảnh địa phương ra thế giới, hay các HTX sản xuất thủ công tham gia thương mại điện tử để tiếp cận những thị trường hoàn toàn mới. Những ví dụ đó cho thấy, khi được kết nối đúng cách, HTX hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong các chuỗi giá trị hiện đại.
Diễn đàn HTX Quốc gia lần thứ 3 năm 2026 được tổ chức nhằm làm rõ bản chất mối quan hệ giữa HTX và doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường, nhận diện những điểm nghẽn thực sự đang cản trở quá trình liên kết, và quan trọng hơn là đề xuất các giải pháp, cơ chế, chính sách có thể triển khai trong thực tiễn.
Trong thời gian tới, Liên minh HTX Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối giữa HTX với doanh nghiệp, thị trường và các chủ thể khác trong nền kinh tế, tăng cường kết nối các chuỗi giá trị, đồng hành cùng HTX trong đổi mới quản trị, ứng dụng công nghệ và chủ động đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển và liên kết bền vững.
Khi tinh thần hợp tác, vốn là giá trị cốt lõi của khu vực HTX, được kết hợp với sự năng động, sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân, một hệ sinh thái kinh tế năng động, bao trùm và bền vững sẽ được hình thành.







