Liên kết website
   
Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 621180
Khách trực tuyến : 892
Thành viên trực tuyến : 2
 









 













Phát triển hợp tác xã ở nước ta trong giai đoạn mới
27/03/2018 - 14:09

Phát triển hợp tác xã ở nước ta trong giai đoạn mới

TS. NGUYỄN TIẾN QUÂN*

I- TÌNH HÌNH HỢP TÁC XÃ HIỆN NAY

Phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã là một tất yếu khách quan. Điều đó đã được khẳng định trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Các hình thức hợp tác xã cũng đã ra đời từ rất sớm ở nước ta. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, điển hình có hợp tác xã Dân Chủ ở Thái Nguyên, cách nay đã gần 60 năm. Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã trải qua các giai đoạn cách mạng đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Bước vào thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là chuyển đổi cơ chế quản lý, thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý của hệ thống hợp tác xã, những yếu kém, khuyết tật và bất cập của mô hình cũ trong điều kiện mới,... nên khu vực hợp tác xã đã lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, nhiều hợp tác xã tan rã. Đến tháng 12-1996, trước khi thực hiện Luật hợp tác xã, cả nước chỉ còn lại 17.462 hợp tác xã (so với trên 79.000 hợp tác xã thời điểm trước năm 1986). Trong đó, giảm nhiều nhất là các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã tín dụng, số hợp tác xã mua bán còn lại không đáng kể.

Luật hợp tác xã được ban hành và có hiệu lực từ năm 1997, nhất là sau khi có Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18-3-2002 Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, khu vực hợp tác xã đã dần khắc phục tình trạng yếu kém, tạo những bước phát triển mới, thể hiện trên các mặt, như sau:

+ Số lượng đã tăng lên đáng kể. Tiếp tục khẳng định các tổ hợp tác, hợp tác xã vẫn là khu vực kinh tế - xã hội rộng lớn nhất. Đến tháng 6-2007, cả nước có trên 320.000 tổ hợp tác, so với năm 2001 tăng 32,6%, gấp hơn 2,5 lần so với năm 1997. Có 17.599 hợp tác xã, trong đó số hợp tác xã mới được thành lập chiếm tới 57,59 %; 39 liên hiệp hợp tác xã tăng so với năm 2001 là 17,8%. Các tổ hợp tác, hợp tác xã thu hút trên 12,5 triệu xã viên. Trong lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp, có 8.535 hợp tác xã và trên 100.000 tổ hợp tác, với khoảng 8,3 - 8,5 triệu xã viên, hộ xã viên tham gia. Hợp tác xã cũng có xu thế phát triển mạnh trong lĩnh vực tín dụng nhỏ, giao thông vận tải, tiểu thủ công nghiệp. Có 934 quỹ tín dụng nhân dân với gần 1,1 triệu thành viên và trên 150.000 các tổ tín dụng.

+ Các hợp tác xã cũ cơ bản đã được chuyển đổi xong theo quy định của Luật hợp tác xã; giải thể các hợp tác xã hình thức, không còn hoạt động. Thời gian qua, cả nước đã chuyển đổi 8.700 hợp tác xã cũ; từ năm 2000 đến nay đã giải quyết được gần 4.000 hợp tác xã cũ, trong đó tiếp tục chuyển đổi trên 1.400 hợp tác xã, giải thể trên 2.300 hợp tác xã yếu kém, không còn hoạt động. Đến nay, cả nước chỉ còn tồn tại trên 300 hợp tác xã (chủ yếu là hợp tác xã nông nghiệp) chưa làm xong các thủ tục giải thể, nhưng cũng không còn hoạt động.

+ Các hợp tác xã mới phát triển mạnh theo hướng nâng cao hiệu quả, đa dạng hơn. Đến nay, cả nước đã có 5.200 hợp tác xã mới được thành lập. Bên cạnh các lĩnh vực truyền thống, nhiều mô hình hợp tác xã trong các ngành, nghề mới xuất hiện, như hợp tác xã vệ sinh môi trường, hợp tác xã nước sạch, hợp tác xã điện, hợp tác xã quản lý kinh doanh chợ... Cũng xuất hiện các mô hình hợp tác xã gắn với đáp ứng nhu cầu đời sống, kinh tế của các giới, các tầng lớp, các nhóm đối tượng khác nhau, như hợp tác xã của phụ nữ, của thanh niên, của những người tàn tật, của cựu chiến binh, do nhà chùa, nhà thờ... Từ kinh nghiệm quốc tế, một số mô hình mới cũng đang được Liên minh Hợp tác xã Việt Nam nghiên cứu triển khai ở một số nơi, như hợp tác xã trường học, hợp tác xã nhà ở, hợp tác xã y tế...

+ Các tổ hợp tác tuy có các tên gọi khác nhau (tổ hợp tác, tổ tín dụng và trợ vốn, tổ và tập đoàn sản xuất, nhóm sản phẩm, câu lạc bộ, hiệp hội ngành nghề...), nhưng về bản chất vẫn là các tổ chức hợp tác xã, được hình thành xuất phát từ nhu cầu thực sự của người dân, phát triển mạnh trong các lĩnh vực tín dụng, sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Nhiều tổ hợp tác đã được tổ chức chặt chẽ và tuân thủ các nguyên tắc của hợp tác xã.

+ Các hợp tác xã (chuyển đổi cũng như thành lập mới) nhìn chung đã tuân thủ các nguyên tắc, quy định của Luật hợp tác xã. Các hợp tác xã được củng cố một bước về tổ chức quản lý, vốn quỹ, về trách nhiệm và quan hệ giữa xã viên với hợp tác xã. Hoạt động của các hợp tác xã được đổi mới, thiết thực gắn với lợi ích của các thành viên. Phần lớn hợp tác xã có kế hoạch, phương án hoạt động cụ thể. Các hợp tác xã nông nghiệp đã làm được các khâu dịch vụ cơ bản, phục vụ sản xuất nông nghiệp; số các hợp tác xã làm các dịch vụ tổng hợp có xu hướng tăng, hoạt động có hiệu quả hơn.

+ Liên kết giữa các hợp tác xã với nhau bước đầu được tăng cường, nhất là giữa các hợp tác xã cùng ngành nghề và trên cùng địa bàn. Một số hợp tác xã đã hợp nhất lại với nhau thành các hợp tác xã lớn hơn hoặc liên kết lại với nhau về tổ chức, thành lập các liên hiệp hợp tác xã hoặc hiệp hội ngành nghề để tăng khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Trong 5 năm gần đây, cả nước đã có 540 hợp tác xã hợp nhất lại thành 144 hợp tác xã lớn hơn; có 39 liên hiệp hợp tác xã thu hút hơn 300 hợp tác xã thành viên (năm 2001 có 8 liên hiệp hợp tác xã).

+ Các tổ hợp tác, hợp tác xã tập hợp trên 12,5 triệu người lao động, hộ kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, tiểu chủ, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ phân bố trên một khu vực kinh tế - xã hội rộng lớn có tác động quan trọng, không thể thay thế được đối với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế, nhất là những ngành nghề như nông nghiệp, thủy hải sản, tín dụng nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, vận tải hàng hóa, hành khách... và có tác dụng thiết thực đến đời sống, công ăn việc làm, thu nhập của khoảng 47-50 triệu người, chủ yếu ở khu vực nông thôn và những tầng lớp có thu nhập thấp. Các tổ chức hợp tác xã còn đóng góp to lớn trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là ở nông thôn, như xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục tiểu học, mẫu giáo, y tế.

Nhìn chung, hoạt động của hợp tác xã không những phục vụ các nhu cầu kinh tế, đời sống của xã viên, hộ xã viên và phát triển cộng đồng là chủ yếu, mà còn đóng góp tới 6,83% GDP của đất nước. Thông qua các hoạt động của mình, các tổ hợp tác, hợp tác xã đã khẳng định được vai trò quan trọng không chỉ đối với sản xuất, kinh doanh, mà còn trở thành nhân tố không thể thay thế, góp phần thúc đẩy dân chủ hóa, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị ở cơ sở.

Tuy có những chuyển biến tích cực, nhưng cũng phải thừa nhận rằng hợp tác xã vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém, còn nhiều khó khăn và bất cập lớn. Cụ thể là:

- Bộc lộ tính không đồng bộ giữa mục tiêu và nội dung hoạt động kinh tế, xã hội phức tạp, quy mô lao động lớn của các tổ hợp tác, hợp tác xã với năng lực nội tại về vốn liếng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển. Phần lớn các hợp tác xã không có mặt bằng để triển khai các hoạt động, có hơn 52% số hợp tác xã không có trụ sở làm việc. Trình độ nhận thức, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, người lao động trong các hợp tác xã vốn đang rất yếu, lại thiếu gắn bó, không yên tâm làm việc lâu dài.

- Trình độ tổ chức, năng lực quản lý trong các hợp tác xã nhìn chung còn yếu. Ở nhiều hợp tác xã (cả chuyển đổi và mới thành lập), việc tuân thủ các nguyên tắc, giá trị, tuân thủ các quy định về góp vốn điều lệ, về tích lũy tài sản vốn quỹ chung chưa bảo đảm.

- Hoạt động của các hợp tác xã còn thiếu gắn bó với nhau, chưa có sự liên kết hệ thống chặt chẽ cả về mặt kinh tế, xã hội và tổ chức. Các hoạt động liên doanh, liên kết trong sản xuất, kinh doanh giữa các hợp tác xã với nhau còn ít, nội dung còn nghèo nàn. Tuy vừa qua đã hình thành được một số liên hiệp hợp tác xã, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao, nhất là tác dụng hỗ trợ các hợp tác xã thành viên còn ít.

II- NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đã xác định mục tiêu đến năm 2010 là đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém hiện nay, đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong GDP của nền kinh tế. Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối phát triển nền kinh tế đa sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; đồng thời nhấn mạnh là phải "tổng kết thực tiễn, sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, bao gồm các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới.

Để đạt được những mục tiêu, yêu cầu đó, theo chúng tôi, khu vực hợp tác xã phải có những chuyển biến mạnh mẽ, cơ bản và cần định hướng vào những nội dung sau:

1. Phát triển hợp tác xã gắn bó mật thiết, phục vụ thực hiện thắng lợi đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đại hội X của Đảng đã đề ra tám nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm (2006-2010): "Giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp... Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức... Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết việc làm, khuyến khích làm giàu hợp pháp, xóa đói, giảm nghèo, phát triển hệ thống an sinh xã hội; đẩy lùi các tệ nạn xã hội... Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, nâng cao hiệu lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa"1... Phát triển của khu vực hợp tác xã cần được gắn chặt với việc cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội đó. Đây không chỉ là yêu cầu, mà trước hết là định hướng, căn cứ, huy động các nguồn lực để hợp tác xã đổi mới và phát triển.

2. Phát triển hợp tác xã hướng vào đáp ứng những nhu cầu kinh tế, văn hóa, xã hội của đông đảo các tầng lớp xã hội và tập hợp, liên kết rộng rãi mọi loại hình và tổ chức kinh tế, đặc biệt chú trọng đối tượng là người lao động, các hộ kinh tế cá thể

Hiện nay, cả nước có 13,8 triệu hộ nông thôn, trong đó 9,8 triệu hộ nông, lâm, ngư nghiệp; 1,37 triệu hộ tiểu thủ công nghiệp, xây dựng; 2,04 triệu hộ thương nghiệp, vận tải và dịch vụ khác; trong số hộ nông dân có 1,3 - 1,5 triệu hộ kiêm ngành nghề. Ở thành thị, có trên 4,72 triệu hộ; trong đó có hàng triệu hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ, hàng triệu người lao động tự do trong các lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương mại, dịch vụ. Tuyệt đại bộ phận xã viên của các tổ hợp tác, hợp tác xã lâu nay là nằm trong khu vực này. Mặc dù có số lượng đông đảo nhất, nhưng phần lớn các hộ cá thể, những người lao động tự do, đặc biệt là ở nông thôn, kinh tế hộ gia đình còn gặp rất nhiều khó khăn. Phát triển hợp tác xã cần tiếp tục chú trọng vào những tầng lớp và đối tượng này, để họ cùng giúp nhau làm ăn, tạo việc làm, tăng thu nhập, phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong điều kiện kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, các hộ sản xuất hàng hóa, các cơ sở kinh doanh nhỏ và vừa trong mọi lĩnh vực, ngành nghề đang và sẽ phát triển nhanh, thay thế dần các hộ gia đình hoạt động kinh tế theo lối tự cung tự cấp. Ngoài ra, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và hội nhập, nhu cầu hợp tác sẽ trở thành cấp thiết đối với họ. Do vậy, phát triển hợp tác xã cũng cần phải hướng tới liên kết rộng rãi các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp cực nhỏ, nhỏ và vừa thuộc mọi lĩnh vực, thành phần kinh tế.

Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy, trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, nếu hợp tác lại được với nhau thì sẽ tốt hơn và hiệu quả hơn, như: tiêu dùng, bảo hiểm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế, chăm sóc trẻ em, người cao tuổi... Phát triển hợp tác xã cũng cần được mở rộng và hướng vào đông đảo các tầng lớp dân cư, các giới xã hội và đông đảo các đối tượng có nhu cầu đáp ứng các đòi hỏi đó.

3. Phát triển hợp tác xã cần được mở rộng trong mọi lĩnh vực, ngành nghề mà người dân có nhu cầu

Trước hết, tập trung phát triển hợp tác xã trong khu vực nông nghiệp và nông thôn, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm và nội dung quan trọng nhất trong chiến lược phát triển hợp tác xã của nước ta. Cần hướng tới mục tiêu làm sao để tuyệt đại bộ phận nông dân ý thức được cái lợi nhiều mặt của việc hợp tác làm ăn, tự nguyện tham gia hợp tác xã; hợp tác xã nông nghiệp vươn lên đáp ứng toàn diện nhu cầu sản xuất, văn hóa, xã hội của người dân nông thôn. Phát triển hợp tác xã gắn với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Phát triển mạnh hợp tác xã trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề nhằm phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chú trọng phát triển hợp tác xã, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và nâng tỷ trọng của hợp tác xã trong các lĩnh vực, ngành nghề đang có nhu cầu và tác dụng nhiều mặt đối với sản xuất, đời sống của người dân, như tín dụng, tiểu thủ công nghiệp, tiêu dùng, giao thông vận tải...

Cùng với các lĩnh vực truyền thống, cần phát triển hợp tác xã trong các lĩnh vực, ngành nghề mới, như môi trường, nhà ở và đất đai, y tế và chăm sóc sức khỏe, các lĩnh vực dịch vụ đời sống... Phát triển hợp tác xã cũng cần quan tâm đến đặc điểm, điều kiện và thế mạnh của từng vùng, từng khu vực, từng địa phương. Cần chú trọng đến phát triển hợp tác xã, nhất là các tổ hợp tác, các hình thức tổ chức kinh tế - xã hội cộng đồng phù hợp với các điều kiện ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Phát triển hợp tác xã gắn với đáp ứng những nhu cầu sản xuất, đời sống, văn hóa, xã hội của bà con, gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh trật tự. Do đó, phát triển hợp tác xã cần có sự hỗ trợ mạnh từ phía Nhà nước bằng các chương trình và chính sách đặc thù, cụ thể và sát thực.

4. Phát triển mô hình hợp tác xã đa dạng về hình thức, phát triển từ thấp đến cao, từ làm dịch vụ sản xuất, dịch vụ đời sống cho các hộ thành viên, xã viên, đến mở mang ngành nghề, vươn lên sản xuất kinh doanh tổng hợp

Tiếp tục củng cố và phát triển các loại hình tổ hợp tác với nhiều hình thức đa dạng đáp ứng nhu cầu hợp tác và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Củng cố, đổi mới các hợp tác xã hiện có và phát triển các hợp tác xã mới cần bảo đảm các giá trị hợp tác xã, bảo đảm hợp tác xã là tổ chức của các xã viên, do xã viên và vì xã viên. Đặc biệt, phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc hợp tác xã. Hợp tác xã phải là những tổ chức tự nguyện, rộng mở cho tất cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ của hợp tác xã và tự nguyện gánh vác trách nhiệm là thành viên, xã viên. Các tổ chức hợp tác xã là những tổ chức dân chủ, do các thành viên kiểm soát, do đó phải làm cho mỗi thành viên, xã viên tích cực tham gia không những bàn bạc mọi công việc của hợp tác xã, mà còn hoạch định các chính sách, đưa ra các quyết định. Xã viên hợp tác xã có quyền bình đẳng trong các quyết định của hợp tác xã theo nguyên tắc "mỗi thành viên một phiếu bầu". Các xã viên đóng góp vốn vào và quản lý dân chủ vốn của hợp tác xã, xã viên hợp tác xã quyết định phương án phân phối thu nhập, sử dụng lãi của hợp tác xã cho các mục đích phát triển hợp tác xã, lập các quỹ dự phòng, lập quỹ không chia để tích lũy chung, chia lãi cho xã viên theo mức đóng góp vốn, công sức và sử dụng dịch vụ, cũng như hỗ trợ các hoạt động khác của hợp tác xã. Đẩy mạnh liên kết giữa các hợp tác xã với nhau cả về mặt kinh tế, xã hội và về tổ chức, từng bước hình thành các liên hiệp hợp tác xã chuyên ngành, đa ngành vững mạnh và phát triển với quy mô khác nhau, từ liên hiệp hợp tác xã huyện, tỉnh tới các liên hiệp hợp tác xã hoạt động liên tỉnh, liên vùng và trong phạm vi cả nước. Đây là nhân tố cực kỳ quan trọng bảo đảm sự phát triển lớn mạnh hơn và vững chắc hơn của khu vực hợp tác xã trong giai đoạn tới.

5. Khu vực hợp tác xã là một hệ thống thống nhất từ các xã viên, hộ xã viên, tới các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam

Với các chức năng đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các hợp tác xã, các thành viên, các tổ chức này có chức năng tham gia với Đảng và Nhà nước trong xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật về hợp tác xã, tuyên truyền, vận động phát triển hợp tác xã, hỗ trợ phát triển hợp tác xã và đại diện cho khu vực hợp tác xã trong các quan hệ đối nội và đối ngoại. Liên minh hợp tác xã Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của khu vực hợp tác xã. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam các cấp cần hoàn thiện tổ chức, hoạt động theo hướng gắn kết chặt chẽ với các hợp tác xã, các thành viên, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động phát triển hợp tác xã, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các hợp tác xã và tập trung hơn nữa vào công tác hỗ trợ đối với hợp tác xã, xã viên, nhất là trong các lĩnh vực đào tạo, hỗ trợ về vốn, thông tin kinh tế, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, tư vấn pháp lý, kế toán, kiểm toán, khoa học, công nghệ.

Để khu vực hợp tác xã đổi mới và phát triển thành công theo những định hướng trên, cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thống nhất nhận thức, tạo môi trường tâm lý thuận lợi cho hợp tác xã phát triển.

Cần tiếp tục làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn các quan điểm phát triển kinh tế tập thể đã xác định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, chú trọng khắc phục những biểu hiện không đúng, lệch lạc về nhận thức, như hiểu không đúng bản chất, nguyên tắc và các giá trị của hợp tác xã; chưa phân biệt đầy đủ sự khác nhau giữa hợp tác xã kiểu cũ và hợp tác xã kiểu mới; còn quan niệm đồng nhất hợp tác xã với doanh nghiệp hoặc hợp tác xã với tổ chức xã hội; đánh giá hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nặng về đóng góp vào ngân sách, GDP..., không thấy được đầy đủ vai trò, vị trí của khu vực hợp tác xã trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý là kinh tế tập thể được Đại hội X của Đảng khẳng định: "Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân"2.

Hai là, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ hợp tác xã vượt qua được những thách thức hiện nay.

Hợp tác xã là tổ chức cộng đồng của người dân trên tinh thần tự nguyện, tự lực, tự trợ giúp, tự chịu trách nhiệm, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội. Bởi vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã; chính sách cần đủ mạnh, đủ tầm; chính sách phải phù hợp với điều kiện tổ chức và hoạt động của hợp tác xã, dễ dàng trong việc triển khai thực hiện; chính sách phải được thống nhất và tổ chức thi hành trên phạm vi cả nước. Những bức xúc lớn nhất hiện nay của hợp tác xã là mặt bằng để triển khai các hoạt động, vốn và nguồn lực con người. Do vậy, thời gian tới cần đặc biệt tập trung tháo gỡ và có những chính sách đủ mạnh để hỗ trợ hợp tác xã về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, mặt bằng hoạt động, tài chính tín dụng.

Ba là, nâng cao hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước đối với hợp tác xã.

Đặc biệt quan tâm đến việc bố trí bộ phận, cán bộ chuyên trách theo dõi hợp tác xã ở huyện và cán bộ bán chuyên trách ở cấp xã. Các bộ, ngành và chính quyền địa phương cần tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, theo đó trên cơ sở quy hoạch chung, quy hoạch phát triển ngành và vùng, tập trung xây dựng các chương trình, chiến lược phát triển khu vực hợp tác xã và đề ra các giải pháp, cân đối các nguồn lực để triển khai; chủ động rà soát, ban hành, bổ sung, xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã; có biện pháp lồng ghép kế hoạch phát triển kinh tế tập thể trong các chương trình, dự án, đề án phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế tập thể.

Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể trong phát triển hợp tác xã.

Các cấp ủy đảng cần nhận thức rõ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm đối với các cấp chính quyền, chỉ đạo phát triển hợp tác xã là một nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên. Tiếp tục quán triệt về đường lối phát triển hợp tác xã trong Đảng và quần chúng nhân dân nhằm tạo sự đồng thuận và nhận thức đúng đắn về bản chất, vị trí, vai trò của hợp tác xã, về con đường đi lên của hợp tác xã và mô hình hợp tác xã kiểu mới. Tăng cường công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng trong các hợp tác xã theo quy định của Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. Củng cố hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và tăng cường vai trò, trách nhiệm của Liên minh trong phát triển hợp tác xã; các cấp ủy, các cơ quan nhà nước tạo điều kiện về các mặt để Liên minh triển khai các nhiệm vụ được giao. Chú trọng triển khai các nhiệm vụ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, tạo điều kiện và có kế hoạch để Liên minh xây dựng các tổ chức hỗ trợ, dịch vụ và tư vấn cho các hợp tác xã, trước hết là các tổ chức hỗ trợ về đào tạo, tín dụng, tổ chức cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho các hợp tác xã, hộ xã viên. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy và làm tốt hơn nữa công tác vận động, giáo dục quần chúng, hội viên, thành viên tự nguyện tham gia phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã; tăng cường quan hệ phối hợp với Liên minh Hợp tác xã Việt Nam trong phát triển kinh tế tập thể.

 ----------------

* Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. Bài đã đăng trên Tạp chí Cộng sản (điện tử), số 21-2007.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.186-187.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XSđd, tr.83.

Bài đăng trên Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam ngày 07/10/2017
  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào