Liên kết website
   
Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 621752
Khách trực tuyến : 71
Thành viên trực tuyến : 1
 









 













Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị: Động lực mới cho Hải Phòng trong liên kết phát triển kinh tế
12/08/2019 - 15:28

Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị: Động lực mới cho Hải Phòng trong liên kết phát triển kinh tế (Kỳ 1- Nhìn từ tiềm năng lợi thế)



     Vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết 45-NQ/TW về xây dựng và phát triển Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045. Trong đó nhấn mạnh quan điểm Hải Phòng cần “khai thác hiệu quả các lợi thế, tiềm năng, mối tương quan, liên kết với các tỉnh ven biển Bắc Bộ, khu vực đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh phía Bắc và kết nối quốc tế”. Như vậy, kinh tế Hải Phòng đã được đặt trong mối liên hệ liên kết vùng, cho cả khu vực phía Bắc và cả nước.

Hệ thống cảng là đầu mối quan trọng trong kết nối kinh tế từ Hải Phòng

       Kể từ khi được người Pháp thành lập vào năm 1888, tính đến nay, thành phố Hải Phòng đã được 131 tuổi. Nhưng từ trước đó, địa lý tự nhiên đã kiến tạo cho vùng đất này một vị thế quan trọng, với tiềm năng kết nối khá toàn diện với khu vực trong nước và toàn thế giới, nhất là trên lĩnh vực kinh tế.

       Nhìn trên bản đồ, Hải Phòng nằm chính điểm lõm của vịnh Bắc Bộ xâm thực vào lục địa, cũng là ranh giới của vùng núi Đông Bắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng điều đặc biệt nhất, Hải Phòng là địa phương chiếm hữu gần hết các cửa sông chính đổ ra biển thuộc cả phụ lưu và phân lưu của hai con sông nổi tiếng, hình thành miền đồng bằng này, đó là sông Hồng và sông Thái Bình. Đồng nghĩa với việc từ Hải Phòng, giao thông đường thủy sẽ đến hầu hết các tỉnh phía Bắc.

          Tiếc rằng, các tài liệu lịch sử không ghi nhiều về vai trò của các dòng sông từ Hải Phòng đối với công cuộc phát triển kinh tế, xã hội thời trước. Mặc dù vậy, trong lịch sử hiện đại, theo tác giả Trần Trọng Kim trong “Việt Nam Sử Lược”, thì vào cuối thể kỷ 19, một thương nhân Pháp tên là Jean Dupuis, được sự yểm trợ của hải quân Pháp, đã tìm cách mở đường thông thương với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) theo tuyến sông Hồng. Sự kiện này cũng tạo duyên cớ cho người Pháp mở rộng xâm chiếm miền Bắc Việt Nam, lúc đó thuộc sự cai quản của nhà Nguyễn. Và cũng trong thời gian này, người Pháp đã nhận rõ tầm quan trọng của vị thế địa lý vùng cửa biển Hải Phòng, cho xây dựng ở đây một thương cảng và thành lập thành phố Hải Phòng vào tháng 7-1888.

          Nhìn rộng ra toàn cầu, lịch sử phát triển hàng nghìn năm của các quốc gia đều khẳng định giao thông là gốc rễ của mọi sự kết nối, tạo ra các giá trị về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… Tóm lại là giao thông chi phối xã hội trên diện rộng, đây là yếu tố vượt trội của kết cấu địa lý mà Hải Phòng được sở hữu. Về đặc thù, tiền đề kết nối Hải Phòng với các khu vực nội địa cũng như ra ngoài Việt Nam chính là lợi thế đặc biệt về đường sông và đường biển, trong đó dịch vụ cảng biển giữ vị trí đầu mối quan trọng nhất. Năm 1874, khi người Pháp xây dựng “bến 6 kho”, các tuyến quốc lộ từ Hải Phòng đi liên tỉnh cũng hình thành như QL5 nối Hải Phòng, qua Hải Dương, Hưng Yên đến Hà Nội; QL10 nối Hải Phòng với các tỉnh duyên hải Bắc Bộ… Đặc biệt đầu thế kỷ 20, từ năm 1901 tuyến đường sắt từ cảng Hải Phòng xuyên qua Hà Nội đến tận Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) đã được xây dựng. Đây là tuyến đường sắt kết nối cảng biển với lục địa duy nhất tại Việt Nam cho tận đến thời điểm này. Trong khi đó các dòng sông len lỏi trong nội địa, vẫn giữ vai trò huyết mạch.

Giao thông đường sông đã phát triển ở Hải Phòng từ hàng trăm năm trước (ảnh tư liệu)

          Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ngày giải phóng Hải Phòng 13-5-1955 cũng là ngày cả miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, mở ra thời kỳ mới cho phát triển tái thiết đất nước, Hải Phòng nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng. Từ Hải Phòng, nguồn viện trợ quốc tế được phân bổ đến các địa phương khác, đồng thời chi viện cho chiến trường miền Nam, khiến cái tên Thành phố Cảng được xem như tên gọi khác của Hải Phòng. Không chỉ có dịch vụ cảng biển và hàng hải, Hải Phòng thời kỳ bao cấp còn là nơi cung cấp hàng tiêu dùng nổi tiếng với điểm nhấn là chợ Sắt; là nguồn cung cấp những sản phẩm công nghiệp chất lượng như xi măng “rồng xanh”, hóa chất sông Cấm, tàu thủy Bạch Đằng, sơn Hải Phòng, len Hải Phòng… Chưa kể các ngành kinh tế đối ngoại của Hải Phòng cũng phát triển rất mạnh, nằm trong số ít những đầu mối duy trì kết nối kinh tế với các nước tư bản.
      
Từ khi kinh tế đất nước bước vào giai đoạn mở cửa năm 1986, những năm đầu tiên đổi mới, kinh tế kết nối của Hải Phòng có một thời kỳ bị chững lại, phần vì tác động của sự kiện đổ vỡ của Liên Xô và khối các nước XHCN Đông Âu, phần vì các địa phương lân cận cũng trỗi dậy phát triển. Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia, thì nguyên nhân lớn nhất là nền kinh tế đổi mới chưa định hình được hướng đi cụ thể, quy hoạch bị hạn chế đã khiến mọi lợi thế và nguồn lực phát triển theo hướng tự phát, nhất thời không có sự kết nối đồng bộ. Nhưng cần phải khẳng định rằng, với riêng Hải Phòng thì lợi thế, vị thế và tiềm năng không hề thay đổi. Đó chính là tiền đề quan trọng đã được Bộ Chính trị khẳng định cách đây hơn 15 năm, khi ban hành Nghị quyết 32-NQ/TW ngày 5-8-2003, về “xây dựng và phát triển Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

      Trở lại với Nghị quyết 45-NQ/TW, sau hơn 15 năm theo đánh giá của Bộ Chính trị: Hải Phòng đã khẳng định được là thành phố cảng, đầu mối giao thông quan trọng và cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc; hệ thống cảng biển, hạ tầng giao thông được đầu tư mạnh, có bước phát triển đột phá theo hướng đồng bộ, hiện đại… như mục tiêu Nghị quyết 32-NQ/TW đề ra. Tuy nhiên trong đó, Bộ Chính trị cũng nhận định “Liên kết vùng trong phát triển kinh tế - xã hội còn mờ nhạt”, đồng thời mở hướng để Hải Phòng đi tới mục tiêu cao hơn, mà liên kết vùng được xác định là đòn bẩy cơ hữu.

     Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị: Động lực mới cho Hải Phòng trong liên kết kinh tế (Kỳ 2 - Rõ hơn vai trò trung tâm)


      Có thể nói, Nghị quyết 45-NQ/TW đã thổi luồng sinh khí mới, làm thức dậy một vùng đất đầy tiềm năng phát triển, để từ đây các quy hoạch lớn cho Hải Phòng dần được thiết lập. Một lần nữa, vị thế Hải Phòng được khẳng định, theo hướng trở thành trung tâm kết nối của cả khu vực miền Bắc, lấy thế mạnh phát triển kinh tế biển và hạ tầng giao thông làm nền tảng.

Cảng hàng không quốc tế Cát Bi (Hải Phòng)

      Nhìn lại 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 32-NQ/TW của Bộ Chính trị, dù còn không ít thách thức nhưng phải khẳng định rằng, Hải Phòng đã có nhiều nỗ lực trong kết nối vùng, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Điều này cũng đã được Bộ Chính trị đánh giá trong Nghị quyết 45-NQ/TW: Hải Phòng có nhiều đóng góp cho phát triển tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, liên kết vùng và phát triển kinh tế đối ngoại.

     Cần phải thấy rằng, những năm gần đây vùng duyên hải Bắc Bộ gồm 5 tỉnh thành: Quảng NinhHải PhòngThái BìnhNam Định và Ninh Bình, được coi là một khu vực phát triển hết sức năng động. Với dân số khoảng 9 triệu người, theo Quyết định số 865/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành năm 2008, vùng được định hướng trở thành vùng kinh tế tổng hợp tầm quốc gia và quốc tế, đồng thời là trung tâm văn hoá – lịch sử, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và là trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Nghĩa là như những gì đã được Trung ương định hướng, thì Hải Phòng là trung tâm lõi của vùng trung tâm duyên hải Bắc Bộ.

      Cùng với định hướng trên, Hải Phòng cùng với Hà Nội và Quảng Ninh, tạo thành tam giác kinh tế năng động của khu vực đồng bằng sông Hồng. Một khu vực với tầm điều chỉnh tới hơn 20 triệu dân, phân bố trên diện tích thuộc 10 tỉnh, thành phố gồm: Bắc NinhHà NamHà NộiHải DươngHải PhòngHưng YênNam ĐịnhNinh BìnhThái Bình và Vĩnh Phúc. Trong khu vực này, vị thế của Hải Phòng là rất lớn, nhất là trên lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp. Chỉ tính riêng sản xuất công nghiệp, khu vực đồng bằng sông Hồng có 61 khu công nghiệp, chiếm 26% về số lượng và trên 21% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Trong đó Hải Phòng có 12/17 khu công nghiệp được quy hoạch đã đi vào khai thác, chưa kể các cụm, điểm công nghiệp địa phương.

      Về phương diện kinh tế đối ngoại, thương mại Hải Phòng xếp thứ 2 trong khu vực đồng bằng sông Hồng, thị trường xuất khẩu mở rộng đến 121 quốc gia và vùng lãnh thổ. Lượng hàng hóa qua các cảng do Cảng vụ hàng hải Hải Phòng quản lý chiếm 57,8% tổng lượng hàng hóa qua cảng cả miền Bắc. Đồng thời trong chiến lược “hai vành đai – một hành lang kinh tế” giữa Việt Nam và Trung Quốc, Hải Phòng còn được xác định là đầu mối quan trọng kết nối về phía Tây Bắc tới Côn Minh (Vân Nam – TQ) và về phía Đông Bắc tới Nam Ninh (Quảng Tây – TQ). 

Một góc cụm cảng và khu dịch vụ logistics ở Đình Vũ (Hải Phòng)

      Với vị thế đặc biệt quan trọng như vậy, trong 15 năm thực hiện Nghị quyết 32-NQ/TW, Hải Phòng đã thu hút nguồn lực đầu tư lớn trên mọi hướng. Đáng kể nhất là hạ tầng giao thông đồng bộ 5 dạng hình đã hình thành sự kết nối rõ nét với cả trong và ngoài nước, những công trình trọng điểm cấp quốc gia đã và đang được đưa vào khai thác như: đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, nâng cấp quốc lộ 10, cảng hàng không quốc tế Cát Bi, hệ thống cầu – đường – cảng nước sâu Tân Vũ – Lạch Huyện… Cùng thời gian này, trên địa bàn Hải Phòng đã có hơn 20 cây cầu vượt sông, vượt cạn, kết nối các tiểu khu vực được đầu tư, hầu hết đã đi vào sử dụng. Một điểm nhấn quan trọng nữa, đó là từ ý tưởng khởi xướng của Hải Phòng, lãnh đạo các địa phương đã ngồi lại, thống nhất đề xuất và được Chính phủ chấp thuận đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao tốc ven biển, mở ra hướng kết nối thiết thực cho cả vùng nói riêng và cả nước nói chung.

     Dịch vụ cảng biển vẫn xứng đáng với vai trò trung tâm,  từ bến “6 kho” của hơn 130 năm trước, đến nay cảng biển Hải Phòng đã là cảng tổng hợp quốc gia, cửa ngõ quốc tế, với 42 doanh nghiệp khai thác, 44 bến, có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải đến 55.000 DWT giảm tải. Hệ thống xếp dỡ và kho bãi được đầu tư hiện đại, năng suất xếp dỡ bình quân đạt 50 đến 60 container/giờ/tàu đối với hàng nhập và 40 moves/giờ/tàu đối với hàng xuất khẩu. Trên thực tế, tính chất kết nối kinh tế qua dịch vụ cảng Hải Phòng đã bao trùm hầu như cả địa bàn khu vực phía Bắc, được thể hiện qua những con số như sản lượng hàng qua cảng tới 109 triệu tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng 25,5%...  theo số liệu năm 2018. Vốn đầu tư cảng biển tăng nhanh chóng, không gian phát triển cảng đã được mở rộng ra phía biển, đặc biệt là khu vực Đình Vũ và cảng cửa ngõ quốc tế tại Lạch Huyện.

      Giữ vai trò trung gian kết nối với hệ thống cảng, phải kể đến dịch vụ logistics nói chung và vận tải nói riêng, hiện các doanh nghiệp Hải Phòng chiếm ưu thế vượt trội về vận tải hàng hóa từ cảng. Thành phố có hệ thống dịch vụ với 41 bãi container diện tích khoảng 200 ha, đáp ứng cơ bản nhu cầu hàng hóa qua cảng. Doanh nghiệp vận tải biển tăng từ con số 47 năm 2003 lên 188 doanh nghiệp vào năm 2017, với 680 tàu, tổng trọng tải 3.669.128 DWT, chiếm 41% tổng số tấn trọng tải của cả nước. Cùng với đó là 1.794 doanh nghiệp vận tải đường bộ, vận hành 74.120 ô tô chở hàng, trong đó 15.236 xe container. Vận tải hành khách cũng chiếm áp đảo các tuyến hai chiều với Hải Phòng, số lượng xe khách là 90.221 chiếc. Vận tải hàng không từ duy nhất 1 chặng bay, sau khi nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Cát Bi,  đã có 11 chặng bay trong nước và quốc tế được khai thác.

      Như vậy có thể nói, Hải Phòng đã và đang hình thành rõ hơn vị trí trung tâm trong kết nối kinh tế - xã hội, là đầu mối giao dịch giữa các địa phương khu vực phía Bắc với ngoài nước và ngược lại. Tuy nhiên nhìn vào tổng thể, sự kết nối đó vẫn bộc lộ không ít hạn chế, nhất là tính điều phối của vị trí trung tâm với các vệ tinh. Mặt khác, nhiều phân ngành kinh tế Hải Phòng dù bứt phá ngoạn mục, nhưng chưa thể hiện rõ sự kết nối như công nghiệp, thương mại, du lịch…

     

    Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị: Động lực mới cho Hải Phòng trong liên kết kinh tế (Kỳ 3-Nhận diện rõ thách thức)

      Dù đạt được những thành tựu vượt bậc và khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực, nhưng tính chất liên kết kinh tế của Hải Phòng chưa tương xứng với vị thế. Về vấn đề này, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: “Liên kết vùng, đặc biệt là trong tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh chưa được đẩy mạnh, hiệu quả chưa cao, còn biểu hiện cục bộ, địa phương”.

Cần hiệu quả hơn trong liên kết khai tác tiềm năng du lịch

    Thực tế, những hạn chế này cũng đã được lãnh đạo thành phố Hải Phòng nhận diện, thẳng thắn chỉ ra trong thời gian qua. Theo đó, liên kết giữa với các địa phương trong vùng còn mang tính đơn lẻ, chưa khai thác, phát huy được hết tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương. Kết quả hợp tác chưa thực sự cao do cơ chế, chế tài hợp tác, phối hợp vùng chưa đủ mạnh và hiệu quả.

      Trước hết nói về tính điều phối, cần phải thấy rằng một mô hình kết nối chỉ thực sự được thể hiện khi có sự điều phối hiệu quả theo từng hoàn cảnh, thời gian, tình huống nhất định, diễn biến theo yêu cầu phát triển kinh tế. Tuy nhiên trong một thời gian dài, sự điều phối hệ thống có phần thiếu thống nhất hoặc chồng chéo, thậm chí buông lỏng giữa Trung ương và địa phương. Nguyên nhân lớn đến từ cơ chế vận hành, mà việc đầu tư, khai thác dịch vụ cảng biển là một ví dụ. Do phân cấp sở hữu và quản lý, hoạt động qua cảng chủ yếu thuộc về các cơ quan Trung ương, nguồn thu ngân sách phát sinh từ khu vực này trong mấy chục năm cũng được đưa toàn bộ về Trung ương. Nhiều bất cập phát sinh khi địa phương phải chi phí rất tốn kém cho các hoạt động hỗ trợ như bảo vệ ANTT, đầu tư và duy tu hạ tầng giao thông kết nối, đào tạo nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng…

      Một nội dung khác cũng liên quan đến vận tải, đó là hạn chế của hệ thống giao thông thủy nội địa. Vận tải đường thủy nội địa truyền thống chủ yếu dựa vào điều kiện tự hạ tầng tự nhiên của các dòng sông, hơn nữa để đáp ứng yêu cầu vận tải hiện nay, nhất là dạng hình hàng hóa container thì vận tải thủy nội địa phụ thuộc rất nhiều vào năng lực xếp dỡ của các điểm đến, trên thực tế chưa đáp ứng được. Theo đề án quy hoạch phát triển, thành phố sẽ xây dựng 62 cảng thủy nội địa, quy hoạch thành 7 cụm với công suất xếp dỡ hàng hóa 29,2 triệu tấn/năm. Nhưng vấn đề đặt ra là phải cân nhắc, tính toán quy hoạch phù hợp hiện trạng cũng như năng lực kết nối với các địa phương khác. Đơn cử đối với container và hàng siêu trường, siêu trọng, vận tải đường sông sẽ không thể thực hiện được nếu như ở các bến đến của địa phương khác không có cảng và thiết bị xếp dỡ chuyên dụng, cũng như hạ tầng giao thông đường bộ tương xứng.

Phát triển kinh tế nội vùng còn bộc lộ nhiều bất cập

      Về phát triển công nghiệp, gần đây Hải Phòng đã trở thành điểm sáng của cả nước trong phát triển công nghiệp. Cùng với việc quy hoạch đầu tư các khu cụm công nghiệp, thành phố cũng đẩy mạnh triển khai các chương trình xúc tiến, hướng mạnh đến những nhà đầu tư công nghệ cao của các nước phát triển, nhất là Nhật Bản, Hàn Quốc… đưa Hải Phòng trở thành địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư cả trong nước và nước ngoài. Năm 2017 chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 21,6%, năm 2018 tăng hơn 25%, nhưng Hải Phòng chưa thể trở thành trung tâm công nghiệp, với vai trò tác động và chi phối hoạt động công nghiệp trong vùng, khi mà yếu tố gia công vẫn chiếm đa số, nhất là công nghiệp nặng và công nghệ cao. Sản phẩm công nghiệp Hải Phòng tiêu thụ nội vùng chưa nổi bật, thiếu những thương hiệu mạnh mang tính áp đặt thị trường.

      Trong khi đó, hoạt động thương mại cũng bộc lộ những hạn chế. Là đầu mối giao thông của cả khu vực phía Bắc, Hải Phòng đương nhiên sở hữu lợi thế về cung ứng và phân phối hàng hóa, hiện trên địa bàn có 55.645 cơ sở thương mại, số lao động trong ngành thương mại khoảng 157.717 người, chiếm 14,4% lao động thành phố. Những năm gần đây kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều qua Hải Phòng luôn tăng ở mức hai con số hàng năm, nhưng xuất khẩu chủ yếu là hàng gia công, còn nhập khẩu thì Hải Phòng cũng rất ít doanh nghiệp đủ khả năng chi phối lượng hàng hóa cho riêng Hải Phòng, chứ chưa nói đến khu vực. Trong liên kết thị trường nội vùng cũng vậy, Hải Phòng cũng như các tỉnh lân cận hiện chưa có động thái nào đáng kể, về điều tra thị trường, quy hoạch sản xuất cũng như tiêu thụ, nên việc cung ứng lẫn phân phối hàng hóa  vẫn cơ bản ngoài tầm kiểm soát.

      Trên lĩnh vực dịch vụ du lịch, mấy năm gần đây tăng trưởng du lịch thành phố đạt mức khá. Về đầu tư phát triển, từ năm 2003 đến nay thành phố có 56 dự án đầu tư, chủ yếu vào 2 trung tâm du lịch Cát Bà, Đồ sơn, hình thành các khu du lịch, khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí, sân golf... Nhưng du lịch Hải Phòng phát triển thì các địa phương bạn cũng phát triển, chỉ tính 5 tỉnh thành vùng duyên hải Bắc Bộ, du lịch Quảng Ninh và Ninh Bình đã ở thế vượt trội. Vấn đề đặt ra là tính kết nối các tua du lịch trong vùng hiện chưa thực sự được hiệu quả, cơ chế chính sách giữa các địa phương chưa rõ ràng, nên hoạt động khai thác dịch vụ còn lệ thuộc nhiều vào những doanh nghiệp lữ hành.

      Rõ ràng, cùng với tốc độ phát triển chung của cả nước, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng, Hải Phòng thực sự cần một “cú huých” để hoàn thiện mục tiêu trở thành “trung tâm” một cách toàn diện như tinh thần Nghị quyết 45-NQ/TW. Để được như vậy, những bất cập nêu trên cũng như nhiều hạn chế khác phải khẩn trương được khắc phục, những lợi thế cần được tăng cường khai thác, đòi hỏi nhiều hơn việc đề xuất các giải pháp thực hiện.

                                                                     

    Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị: Động lực mới cho Hải Phòng trong liên kết kinh tế (Kỳ 4-Cần thêm những cơ chế mới)

1

      Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 32-NQ/TW về “xây dựng và phát triển Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”, nhiều nội dung liên quan đến vị thế Hải Phòng đã được đề xuất. Trong đó xác định rõ quan điểm: Đầu tư cho Hải Phòng chính là đầu tư cho cả nước. Quan điểm này cũng được nhấn mạnh tại Nghị quyết 45-NQ/TW.

Hải Phòng phát triển đột phá khi có cơ chế chính sách phù hợp

     Đây là mệnh đề hết sức quan trọng, bởi Hải Phòng dù không giữ vai trò điều phối về hành chính, nhưng thực tế vị thế Hải Phòng đã chi phối rất nhiều lĩnh vực của cả vùng duyên hải Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng. Việc thiếu những cơ chế cụ thể tương xứng với vai trò “trung tâm” đã làm khó cho Hải Phòng khi muốn tham gia đầu tư hoặc can thiệp vào những hoạt động phối hợp. Thấy rõ là trong nhiều năm liền, khi hạn chế về hạ tầng giao thông đường bộ bộc lộ, lượng hàng hóa lưu chuyển qua cảng chậm đã khiến Hải Phòng được coi như điểm nút của mọi sự ách tắc. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình ANTT và an sinh xã hội của Hải Phòng.

      Đáng mừng là sau nhiều nỗ lực của Trung ương và địa phương, đến năm 2017 vừa qua, một trong những đề xuất đã được hiện thực hóa,  đó là Nghị định 89/2017/NĐ-CP quy định một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với Hải Phòng. Thực ra đây là một trong những nội dung được đề xuất từ trước đó khá lâu, với những luận cứ khoa học xác đáng, được bàn thảo nhiều lần tại nghị trường Quốc hội. Mục đích nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của Hải Phòng, tạo điều kiện để thành phố phát huy tối đa các nguồn lực, làm đầu tàu kéo theo sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong vùng, khu vực và cả nước nói chung. Có thể nói, cơ chế đặc thù về tài chính, ngân sách đã giúp Hải Phòng giải được bài toán nan giải lâu nay về thu hút nguồn lực chủ động cho đầu tư phát triển.

      Về phía mình, những thành tựu vượt bậc đạt được trong những năm gần đây, nhất là 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội 12 của Đảng và Nghị quyết đại hội 15 Đảng bộ thành phố, càng thấy tầm quan trọng của cơ chế, khi mà Hải Phòng đã chủ động phát huy nội lực từ sự sáng tạo, dám nghĩ dám làm. Việc liên tiếp nhiều năm chọn chủ đề hành động “Tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách – Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh”, phải chăng chính là công cụ đắc lực để thực hiện mục tiêu này? Trước hết về thu hút đầu tư nước ngoài, Hải Phòng đã ban hành những cơ chế thông thoáng, mở đường cho hàng loạt dự án cực lớn, trở thành địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút nguồn vốn FDI.

Cầu Hoàng Văn Thụ đang chuẩn bị được đưa vào sử dụng

      Chưa hết, cùng với đó là làn sóng đầu tư chưa từng có của các doanh nghiệp hàng đầu trong nước, hàng trăm nghìn tỷ đồng đã được các tập đoàn lớn cam kết thực hiện. Nổi bật nhất là VinGroup đầu tư trên hầu hết các phân ngành kinh tế: công nghiệp có tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast, nông nghiệp có khu công nghệ cao Vineco, du lịch có khu nghỉ dưỡng sinh thái đảo Vũ Yên, xây dựng có khu đô thị Xi Măng, thương mại có hệ thống VinMart, xã hội có bệnh viện Vinmec… Còn SunGroup cũng khẩn trương tiến hành các bước đi cần thiết, cụ thể hóa ý tưởng xây dựng tổ hợp công nghiệp – du lịch tại huyện đảo Cát Hải, đồng thời đề xuất đầu tư cầu Tân Vũ – Lạch Huyện 2. Trong khi Him Lam đã triển khai dự án khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp tại Đồ Sơn, và Vietjet cũng chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện để xây dựng nhà ga hành khách thứ hai tại Cảng hàng không quốc tế Cát Bi.

      Về thương mại, nhận thức được những hạn chế của chuỗi hệ thống thương mại nội địa đang hoạt động trên địa bàn chủ yếu mang bản chất tự cung, chưa tạo ra sự kết nối mang tính khu vực. Mới đây, Hải Phòng đã khởi công xây dựng Trung tâm thương mại AEON MALL, với kỳ vọng tạo ra một điểm nhấn trong bản đồ thương mại vùng duyên hải Bắc Bộ. Về du lịch, trong thời gian tới khi các dự án hạ tầng của các tập đoàn Vingroup, Sungroup, Him Lam, FLC… hoàn thiện, sẽ giúp Hải Phòng có lợi thế vượt trội để phát triển ngành “công nghiệp không khói”. Những bước đi này đã và đang thể hiện quyết tâm của thành phố, trong việc đẩy mạnh đầu tư cho thương mại dịch vụ, phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế, đồng thời khắc phục điểm yếu trong kết nối thị trường khu vực.

      Trước đó, Hải Phòng cũng là địa phương đầu tiên của cả nước triển khai thu phí sử dụng công trình, kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển Hải Phòng, đem lại cho thành phố nguồn thu mới khoảng 1.500 tỷ/năm. Một phần lớn từ nguồn thu này sẽ được đầu tư trở lại cho hạ tầng, không chỉ tạo ra hướng phát triển văn minh, hiện đại, mà còn tạo cho doanh nghiệp được hưởng lợi từ chính việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Sự kết hợp của cơ chế, chính sách mở, sẽ tạo ra những động thái thiết thực và tích cực hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển không riêng của Hải Phòng. Tuy nhiên, nếu chỉ có cơ chế về kinh tế, tài chính thì dương như vẫn chưa đủ để Hải Phòng trở thành trung tâm như tinh thần Nghị quyết 45-NQ/TW đề ra. Nghĩa là, cần có thêm những cơ chế mới về hành chính, về nhân sự và nhân lực… xác định rõ thẩm quyền vùng và khu vực, mới làm nổi bật hơn vai trò của Hải Phòng.

      Rõ ràng, cùng với sự phát triển chung của cả nước và thế giới, một số quan điểm và mục tiêu phấn đấu cũ sẽ không còn phù hợp, đòi hỏi Hải Phòng cần được hưởng những chính sách chiến lược, để cụ thể hóa nghị quyết 45-NQ/TW vào cuộc sống. Nhưng trước khi đạt được điều đó, thiết nghĩ thành phố cần tiếp tục tập trung khắc phục những hạn chế và thách thức nội tại, trên cơ sở đó đề xuất tham mưu về chủ trương. Bởi lẽ, Hải Phòng sẽ không thể trở thành đầu tàu theo đúng nghĩa, nếu không xây dựng và triển khai hiệu quả một mô hình kinh tế liên kết, với những toa kéo đủ tầm hiệu lực.
                                                                                Lê Minh Thắng (Báo ANHP)


















  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào
Các tin đã đưa
Đưa cán bộ trẻ qua đào tạo về làm việc tại hợp tác xã nông nghiệp: Tạo điều kiện phát huy năng lực, sức trẻ(23/08/2019 - 14:36)
Chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả Hội nghị 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị(23/08/2019 - 08:09)
Hải Phòng thực hiện tốt chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường đối với ngành công nghiệp năng lượng, vật liệu xây dựng và chế biến thực phẩm(22/08/2019 - 07:42)
Huyện Kiến Thụy: Hoàn thành xây dựng nông thôn mới trước 1,5 năm so với kế hoạch(19/08/2019 - 14:29)
Giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Hải Phòng(16/08/2019 - 15:02)
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư công năm 2020 vùng Đồng bằng sông Hồng(16/08/2019 - 14:22)
Giao ban báo chí tuần 33: Tập trung tuyên truyền việc triển khai Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị(16/08/2019 - 08:16)
Kế hoạch nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) năm 2019-2020 của thành phố Hải Phòng(16/08/2019 - 08:03)
Hội nghị đối thoại doanh nghiệp tháng 8/2019(13/08/2019 - 09:22)
Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị: Động lực mới cho Hải Phòng trong liên kết phát triển kinh tế(12/08/2019 - 15:28)
Lãnh đạo thành phố tiếp xúc cử tri sau Kỳ họp thứ 10 HĐND thành phố khóa XV tại nơi bầu cử(31/07/2019 - 15:12)
Công điện của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn thành phố Hải Phòng(31/07/2019 - 15:11)
Chuyển trang    
Trang số:  1/52
Số bản ghi trên trang:
Tin mới
HTX sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Thiên Hương: Tăng lợi nhuận, thêm thu nhập
Đưa cán bộ trẻ qua đào tạo về làm việc tại hợp tác xã nông nghiệp: Tạo điều kiện phát huy năng lực, sức trẻ
Chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả Hội nghị 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị
Hải Phòng thực hiện tốt chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường đối với ngành công nghiệp năng lượng, vật liệu xây dựng và chế biến thực phẩm
Liên minh HTX Việt Nam trình gửi Thủ tướng Chính phủ về thực hiện ưu đãi thuế, tiền thuê đất, phí và lệ phí đối với HTX, Liên hiệp HTX
KHAI GIẢNG LỚP NGHỀ TRỒNG HOA, CÂY CẢNH TẠI XÃ ĐẶNG CƯƠNG
Liên minh HTX Việt Nam làm việc với HTX Sunfood Đà Lạt
Lo ngại chăn nuôi gia cầm phát triển nóng
Tăng cường đào tạo nghề lao động nông thôn cho khu vực kinh tế hợp tác, HTX
Giao lưu điển hình toàn quốc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: Tạo sức lan tỏa rộng khắp, mạnh mẽ
Huyện Kiến Thụy: Hoàn thành xây dựng nông thôn mới trước 1,5 năm so với kế hoạch
Tổng kết 10 năm xây dựng nông thôn mới khu vực đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ
Đề xuất bỏ quy định: “Tổng tài sản của quỹ TDND không vượt quá 500 tỷ đồng”
Giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Hải Phòng
Ðể phát triển kinh tế trang trại bền vững